Showing posts with label tội ác Cộng sản Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label tội ác Cộng sản Việt Nam. Show all posts

Monday, February 10, 2020

Bằng Mọi Cách Trung Cộng phải Giết Hết Dân Việt Nam



Bằng Mọi Cách Trung Cộng phải Giết Hết Dân Việt Nam


Không Khí Ô Nhiễm ở Việt Nam đến Mức Quốc Tế BÁO ĐỘNG rồi.
https://youtu.be/KOOuz_F6jQ4


Một sự trả thù lên Thiên Chúa Giáo và những người Thương Phế Binh VNCH Việt cộng Cướp vườn rau Lộc Hưng!
https://youtu.be/SKsdoXfLtYE





1
19/01/2019
Phần 1: Tài Liệu Của Tàu Khựa nói về Trận Hải Chiến Hoàng Sa
https://youtu.be/_U2IIbbzg_U


2
19/1/2019
Phần 2: Tài Liệu của CIA Hòa Kỳ nói gì về trận Hải Chiến Hoàng Sa
https://youtu.be/bk7y0Zf_8l0


3
19/1/2019
Phần 3: Tài liệu và Chứng Nhân trong trận Hải Chiến Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa
https://youtu.be/mAG_JAyAH_w


0_zpsndlifrmk

BÀI HÁT CHỐNG XÂM LĂNG

* Nhạc & lời: Nguyệt Ánh
(viết ngày 23 tháng 6 năm 2011 để yểm trợ các cuộc xuống đường của đồng bào trong và ngoài nước)
* Trình bày: Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Tuấn Minh, Bích Châu.

Lời 1:

Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại trong dân gian
Từ Trưng Vương đánh Tô Định quân Hán tiêu tan
Cờ phất giữa Mê Linh, truyền nữ tướng Lê Chân
Cùng toàn quân, cùng toàn dân đánh tan giặc Tàu.
Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại cho dân Nam
Bạch Đằng Giang, những chiến thuyền phơi xác ngổn ngang
Cùng với Hưng Đạo Vương, thề quyết giữ giang sơn
Thề quyết đánh quân Nguyên, Thoát Hoan chạy dài.

Điệp khúc:

Quyết chống xâm lăng (quyết chống xâm lăng)
Đánh tan giặc Tàu (đánh tan giặc Tàu)
Quyết chống ngoại xâm (quyết chống ngoại xâm)
Quét tan nội thù (quét tan nội thù)
Quyết chiến xông lên (quyết chiến xông lên)
Đánh tan giặc Tàu (đánh tan giặc Tàu)
Quyết chiến vùng lên (quyết chiến vùng lên)
Quét tan nội thù (quét tan nội thù).

Lời 2:

Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại trong dân gian
Bình Định Vương đã kiên cường đại thắng quân Minh
Hùng khí đất Lam Sơn, hào khí ngất phương Nam
Bừng bừng sôi, bùng bùng cao, đánh tan giặc Tàu.
Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại cho dân Nam
Ầm ầm vang bước chân đoàn quân Bắc Bình Vương
Chờ tiến vô Thăng Long, toàn nước mới vui xuân
Giục giã trống Tây Sơn, Mãn Thanh đường cùng.

Lời 3:

Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại trong dân gian
Trận Hoàng Sa, Hải quân Việt anh dũng hy sinh
Tử chiến chống xâm lăng, tử chiến giữ quê hương
Người Việt Nam, giòng Việt Nam sáng danh quật cường.
Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại cho dân Nam
Người thanh niên trước pháp trường hô lớn “Việt Nam muôn năm!”
Một tiếng súng kêu vang, một tiếng nấc khô khan
Dù chết vẫn hiên ngang, quyết không đầu hàng.

Lời 4:

Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại trong dân gian
Giặc ngoại bang biết bao lần xâm lấn Nam Quan
Toàn nước chống xâm lăng, toàn nước giữ giang san
Còn Việt Cộng mang Ải Nam Quan bán cho Cộng Tàu.
Bài hát chống xâm lăng đã lưu truyền lại cho dân Nam
Từ muôn phương quyết xuống đường, tổ quốc lâm nguy.
Đảng đã bán Nam Quan, nhà nước bán Tây Nguyên
Người muốn cứu giang san phải quét tan bạo quyền.

https://phonhonews.com/bai-hat-chong-xam-lang-nguyet-anh-viet-dzung-tuan-minh-bich-chau/



^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^

Vào tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính Trị Bộ Chỉ Huy Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Cộng, ông Mao Trạch Đông tuyên bố:

“Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai Á, Tân Gia Ba… Một vùng như Đông Nam Á rất giầu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.
Và những người cộng sản Việt Nam giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này.
Mao Zedong


^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^

Bài Hát Chống Xâm Lăng
- Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
https://youtu.be/ka_XPYYOYcs


Sáng Danh Lạc Hồng
(Nguyệt Ánh, Việt Dzũng)
https://youtu.be/rDWK7b18Pvg

 


Shang bị gọi là Sở! Còn một phần Shang khác đã bị Chu lấy đất

Phân tích và suy xét, sẽ thấy rằng -- Shang 商 vẫn tồn tại, và Shang bị gọi là Sở! Còn một phần Shang khác đã bị Chu lấy đất đó là một phần của Shang, như vậy có nghĩa là nước Shang bị đổi tên và tách ra, và Chu sợ rằng Shang còn tồn tại sẽ đòi đất, và cũng sợ dân chúng của Shang đã mất sẽ phục quốc, cho nên phải thêu dệt tội ác cho vua tên "Trụ 受" còn gọi là Đế Tân - 帝辛... trở thành một ông vua dâm ô ác độc, và kết quả là... cứ lâu lâu thêm một thời gian thì "Trụ" vương lại có thêm một hình thức dâm ô ác độc để dân gian kể cho nhau nghe chơi... và rồi lâu dần thì đủ để thành một truyện "Phong Thần" rất hấp dẫn trong dân gian...

Đó là cách diễn giải lịch sử độc quyền của Chu để gạt hẳn văn hóa có sẵn của Văn-Lang hay Shang 商 qua một bên.

..............................................

Nước Shang 商 bị tách rời ra, và rồi bị đổi tên khác -- là (Sở 楚).

Shang bị gọi là Sở! Còn một phần Shang khác đã bị nhà Chu lấy đất, một sự cướp nước một cách 'nhẹ nhàng', 'kín đáo' chính vì nhà Chu lấy đất của Shang, sợ một phần của Shang còn tồn tại sẽ đòi đất, sẽ phục quốc, nên nhà Chu phải thêu dệt tội ác cho vua tên "Trụ 受", khiến người dân oán ghét và khinh bỉ.
Sách sử ngày nay cho rằng Sở 楚 là một nước nào đó chư hầu của nhà Chu như bao nhiêu nước chư hầu khác, nhưng nước Sở chính là Shang / nhà Thang, nhà Thương/商 bị Chu cướp đất. Sở không phải chư hầu của nhà chu mà là Nước Shang 商 bị Chu tách rời ra và bị đổi tên khác.


 

.......................

 

Tại sao nước ta có tên là Việt Nam

 


Tại sao nước ta có tên là Việt Nam

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, vua Gia Long cũng muốn lấy lại hai mảnh đất Quảng Đông Quảng Tây đó, do đó vua Gia Long đặt tên nước là Nam Việt, vì dưới thời nhà Thanh lúc đó Quảng Đông và Quảng Tây có cái tên là Đông Việt và Tây Việt. Vì vậy, vua Gia Long đặt tên là Nam Việt là để tạo căn bản có cơ sở để đòi lại hai miếng đất này.

Ngày hôm nay nước chúng ta có cái tên là "Việt Nam" cũng bắt nguồn từ cái khát vọng lấy lại từ hai miếng đất này.

 

.......................................

 

Chu/Sở 楚 LÀ VIỆT 越... và là Văn-Lang



- Sở có phải là Việt Không?


Phải! Sử Ký Tư Mã Thiên ghi rõ Sở và Việt đồng tông đồng tộc, ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau, sau nầy thì còn giống nhau 1/2 (phân nửa), ngày nay tiếng Quan-Thoại đã chiếm lĩnh vùng đất Sở, nhưng vẫn còn nhiều từ ngữ cổ Việt được dùng, và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân-Việt là giống nhau, và dĩ nhiên có từ ngữ cũng giống như tiếng Việt-Nam.

Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và là một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà.

Văn Hóa Sở có thời xưng là Shang 商 - Thương, Ân Thương 殷商 Âu-Nhân 甌 人 (Âu-Nhân chỉ là phiên âm, Âu-Nhân 甌 人= Ân, tức là Ân Thương) rồi xưng là Sở 楚.

Sở là một quốc gia rộng lớn, văn hóa và ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm, đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi. "Sử Ký" chép rằng: Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương Nhà CHU.

- Sở còn có nhiều tên gọi của Đất Sở, Nước Sở, Người Sở, do cách phiên âm khác nhau của chữ "Sở" thành ra nhiều chữ sở.
Phiên âm là một hình thức dùng chữ đã có rồi để diễn đạt chữ chưa có của tiếng nói, ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân-Việt / Triều-châu còn chưa có chữ viết.

Sở còn gọi là Kinh, Kinh Sơ, Cửu Khuẩn, Kinh Man, và một số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.

- Còn gọi là Si-Vưu, là Triều-Ca, Thương Ngô, Cứ Âu.

- Còn gọi là Phù Dung Quốc, Dương Việt.

- Còn gọi là Cộng Nhân, Quỉ Phương, Cổ Muội.

- Còn gọi là Việt-Khu.

- Phạm vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc:

Các tỉnh
湖南 Hồ Nam、
湖北 Hồ Bắc、
重庆 Trùng Khánh、
河南 Hà Nam、
安徽 An Huy、
江苏 Giang Tô、
江西 Giang Tây v. v...
và các bộ tộc "Cửu-Lê 九黎". v. v...

         ***Giải mã bí mật cổ sử Sở bằng tiếng Việt ***

- Sở 楚: Chữ xưa là tượng hình, chữ Sở gồm hai cây (Chữ Lâm 林 phía trên gồm hai chữ mộc 木) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây 疋 = Sơ (chữ Sơ 疋 bộ tẩu) phát âm theo:
- Tiếng Quan Thoại (Mandarin) là Chsùa,
- Tiếng Mân-Việt là chsó,
- Tiếng Việt-Quảng-Châu,
- Phiên Ngung là chsỏ;
đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở" theo chiếc tự của Sơ-Lâm, nhưng cũng lại có một cách đọc phát âm là: "Trầu", và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại quá nhiều...

Chữ Si-Vưu chính là phiên âm của chữ Trầu: Si-Vưu = 蚩尤, bởi vì Si-Vưu vô nghĩa, Si-Vưu chỉ là phiên âm, và đánh vần phiên âm là ra chữ Trầu mới là "có nghĩa" và "đúng nghĩa" với chữ tượng hình đã thể hiện, nếu như phiên âm đánh vần là "Sưu" hoặc "Sừu" thì lại vô nghĩa, nhưng dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu, Chsia-ầu-Chsầu, tức là thật ra là "Trầu" (Đọc theo tiếng Việt chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH, "Trầu" là "Chầu") và đã có một âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chữ 楚 đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây, bởi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây cau là đúng nhất cho chữ Sở, và khi cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.

- Vậy Si-Vưu theo cổ Việt (Nhã ngữ) – là Chsén-Dầu, đó là phiên âm Chs-ầu.

=> chsầu=Trầu; Si-Vưu = 蚩尤 = Trầu.

Tương tợ Chsầu, chsỏ, chsó, chsùa, tsù... viết là:

... Sở là Việt, mà lại dính líu với chữ "Trầu"?

Đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu, và là một đặc điểm hiếm hoi của nhân loại.

(Ngoài ra: Người Mèo tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ", và gọi là "txiv -yawg"... đọc nhanh cũng đúng là một dạng của âm chữ TRẦU...

Đây là một đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết. Nghĩa là ngày xưa Sở hay Việt - Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách–Việt".

*********************************

Sở còn gọi là Kinh, người kinh Vua sở là Vua Hùng. Chính Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương Nhà CHU.

Đọc Sự tích trầu câu: Ngày xưa có hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc: Có phải nhà Thương bị tách đôi, bị gọi là Sở và phần kia là Chu?
Nguyên một câu chuyện như mang một thông điệp gì đó, của tiền nhân nhắn gởi con cháu sau này.

............................................................

Sự Tích Trầu Cau

Ngày xưa Thời vua Hùng Vương đời thứ Tư, có Tân và Lang là hai anh em ruột, dáng người và mặt mày giống nhau như đúc, chính người nhà cũng nhiều phen nhầm lẫn. Cha họ là một người cao to nhất trong vùng từng được vua Hùng triệu về Phong Châu ban thưởng và đặt tên là Cao. Từ đó gia đình lấy họ "Cao".

Hai anh em lớn lên thì cha mẹ qua đời. Cả hai không rời nhau nửa bước. Người cha trước khi mất có gửi gắm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu, Lang không chịu ở nhà một mình cũng xin cùng được học với anh. Đạo sĩ họ Lưu có cô con gái cùng lứa tuổi với họ.

Để biết ai là anh, ai là em, một hôm cô gái họ Lưu bày ra một mẹo nhỏ. Giữa lúc họ đang đói, nàng chỉ dọn cho họ một bát cháo với một đôi đũa. Đứng sau khe vách, nàng thấy người này nhường cháo cho người kia ăn nên cô biết đó là người anh.Tân và cô gái gặp gỡ và yêu nhau. Đạo sĩ họ Lưu vui lòng gả con cho Tân. Sau khi cưới, hai vợ chồng đến ở một ngôi nhà mới, có Lang ở chung.

Từ ngày lấy vợ, Tân không quan tâm em như trước nữa. Lang nghĩ anh "mê vợ quên ta" trong lòng chán nản buồn bực.

Một hôm Lang và Tân cùng lên nương đến tối mịt mới về. Lang về trước làm vợ Tân nhầm liền ôm chầm lấy,lúc đó Tân bước vào nhà và ghen em, hững hờ với Lang. Lang vừa giận vừa thẹn. Chàng bỏ nhà ra đi lúc trời mới mờ sáng, trong lòng bực bội. Mấy ngày đường, Lang tới bờ một con sông lớn nước chảy xiết. Lang quyết không chịu trở lại, cúi gục trên bờ, ôm mặt khóc. Chàng khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi những con chim đi kiếm ăn khuya vẫn còn nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau, Lang hóa đá.

Mãi sau vẫn không thấy em về, Tân bổ đi tìm không thấy tăm dạng. Biết là em bỏ đi vì giận mình, chàng hối hận. Hôm sau nữa, cũng không thấy về, Tân hoảng hốt để vợ lại nhà, cất bước đi tìm. Chàng đến bờ con sông thấy em đã hóa thành đá. Tân đứng bên cạnh hòn đá khóc mãi cho đến lúc chết và hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời, bên cạnh hòn đá.

Vợ Tân chờ mãi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng tới con sông khóc cạn cả nước mắt và chết hóa thành một cây dây quấn quanh lấy cây kia.

Đợi mãi không thấy ba người về, vợ chồng đạo sĩ nhờ mọi người chia nhau tìm kiếm. Trước hòn đá và hai cây lạ, họ dựng miếu thờ cả ba người trẻ tuổi ở ven sông. Nhân dân quanh vùng gọi là miếu "anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa".

Một năm nọ trời hạn hán rất dữ chỉ có hai cây mọc bên cạnh hòn đá trước miếu là vẫn xanh mượt. Mọi người cho là linh dị. Vua Hùng một hôm ngự giá qua xứ đó. Khi đi qua trước miếu, vua ngạc nhiên hỏi:

– "Miếu này thờ vị thần nào? Mấy loại cây này ta chưa từng thấy bao giờ?".

Lạc tướng cho gọi mấy cụ già ở quanh vùng đến hỏi. Hùng Vương càng nghe, không ngăn được sự cảm động. Vua vạch lá trèo lên nhìn khắp mọi chỗ và sai một người trèo cây hái quả xuống nếm thử. Vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thì một vị là lạ đến ở đầu lưỡi: nó vừa ngon ngọt, vừa thơm cay.

Tự nhiên có một viên quan hầu kêu lên:

– "Trời ơi! Máu!".

Thì ra những bãi nhai quả và lá của hai thứ cây đó một khi nhổ xuống đá bỗng đỏ ối ra như máu. Vua sai lấy cả ba thứ nhai lẫn với nhau thì bỗng người thấy nóng bừng như có hơi men, môi đỏ tươi sắc mặt hồng hào tươi đẹp. Vua bảo:

– Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! Tình yêu thương của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.

Từ đó vua Hùng ra lệnh cho mọi nơi phải gây giống cho nhiều hai loại cây ấy, bắt buộc trai gái khi kết hôn thế nào cũng phải tìm cho được ba món: trầu, cau và vôi cho mọi người nhai nhai nhổ nhổ một tý để ghi nhớ tình yêu không bao giờ phai lạt. Từ đó dân Việt mới có tục ăn trầu.

Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu việc giao hiếu, kết thân và cưới hỏi của người Việt.

 

Nhà Thương/Thang
1766 TCN–1122
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/02/1766-tcn1122-tcn-nha-thuong-vao-khoang.html


Sunday, February 17, 2019

Nền Hòa Bình Tàn Nhẫn - The Cruel Peace: South Vietnamese democided by Vietcong after 1975

Nền Hòa Bình Tàn Nhẫn - The Cruel Peace: South Vietnamese democided by Vietcong after 1975

 




    Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam - Vietnamese Boat People

    Thống Kê Thương Vong và tử vong của miền nam Việt Nam -- Thuyền Nhân Việt Nam

    • Vietnam, Post-War Communist Regime (1975 et seq.):
      - 430,000 died
    • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson ("Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace", in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around:
      - 65,000 executions.
      This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
    • Orange County Register (29 April 2001):
      - 1 million sent to camps and
      - 165,000 died.
    • Northwest Asian Weekly (5 July 1996):
      - 150,000 - 175,000 camp prisoners unaccounted for.
    • Estimates for the number of Boat People who died
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees:
      - 250,000 boat people died at sea.
      - 929,600 reached asylum.
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission:
      - 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister's estimate that:
      - 200,000 refugees had died at sea since 1975.
    • Also: "Some estimates have said that around half of those who set out do not survive."
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified "US Officials" that:
      - 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that:
      - 0.5M fled, and
      - 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986):
      - ¼M Chinese refugees in two years.
      - 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars:
      - 1945-1990
      (1991)
    • Rummel estimated that South Vietnamese and ARVN soldiers has been democide* by Post-War Communist Regime from 1975 to 1887:
    • South Vietnamese democide (from 1975 to 1887):
      - 1,040,000 (1975-87)
    • Executions:
      - 100,000
    • Camp Deaths:
      - 95,000
    • Forced Labor:
      - 48,000
    • Democides in Cambodia:
      - 460,000
    • Democides in Laos:
      - 87,000
    • Vietnamese Boat People:
      - 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese goverment).

    Tạm dịch:

    Thống Kê Thương Vong của miền nam Việt Nam -- Thuyền Nhân Việt Nam

    Việt Nam,
    - Chế độ cộng sản sau chiến tranh (1975 và những năm tiếp theo):
    * 430,000 người.


    - Theo Jacqueline Desbarats và Karl Jackson (bài viết "Việt Nam 1975-1982: Nền Hòa Bình Tàn Nhẫn
    ", trong "The Washington Quarterly, Fall 1985" ước tính rằng có khoảng:
    * 65.000 người bị hành quyết.

    Con số này lặp lại trong Bản Tin Bộ Ngoại Giao tháng 9/1985 về Việt Nam.

    - Theo Phòng Đăng Kiểm Hạt Quận Cam (29 tháng 4 năm 2001:
    * 1 triệu người đã được gửi đến các trại định cư và 165.000 người chết.

    - Tờ Northwest Asian Weekly ngày 05 tháng 7 năm 1996) ghi:
    * Từ 150,000 đến 175,000 tù nhân trong các trại cải tạo đã mất tích/chết.

    Các Ước Tính về Số Thuyền Nhân đã chết:

    - Elizabeth Becker (trong cuốn "Chiến Tranh Đã Qua Đi", 1986) trích dẫn Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tị Nạn, nêu con số:
    * 250.000 thuyền nhân chết trên biển.

    * 929.600 người đã đến được các trại tị nạn.

    - Tờ San Diego Union-Tribune ngày 20 tháng 7 năm 1986 trích dẫn Ủy Ban Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc, ghi:
    * Từ 200.000 đến 250.000 thuyền nhân đã chết trên biển tính từ năm 1975.

    - Tờ Washington Post ngày 3 tháng 8 năm 1979 trích dẫn - Ước Tính của Bộ Trưởng Nhập Cư Úc ghi rằng:
    * Có 200.000 người tị nạn đã chết trên biển từ năm 1975.
    Báo này cũng nói: "Một số ước tính nói rằng khoảng một nửa của những người ra đi đã không đến nơi."

    - Cuốn Niên Giám Information Please năm 1991 trích một số viên chức Mỹ không nêu tên nói rằng:
    * Có 100.000 thuyền nhân đã chết khi chạy trốn khỏi Việt Nam.

    - Tự điển ước tính là:
    * 0,5 triệu người đã chạy trốn.
    * Có từ 10 đến 15% số này bị chết. Tống số người chết là: * khoảng từ 50,000 đến 75,000.

    - Nayan Chanda, trong cuốn (Kẻ Thù Huynh Đệ 1986) viết rằng - Triệu người Trung Quốc (Việt Hoa?) đã đi tị nạn trong hai năm, trong số đó:
    * 30.000 đến 40.000 người đã chết trên biển.
    Những con số này cũng được lặp lại bởi Marilyn Young trong cuốn "Cuộc Chiến Tranh Việt Nam 1945-1990". (1991)

    - Theo R. J. Rummel thì con số người bị giết cách này hay cách khác (democide*) bởi chính phủ cộng sản Việt Nam là:
    * 1.040.000 (từ 1975 đến 1987).
    Trong đó:

       - Bị xử tử, hành quyết:
    * 100.000 người.

       - Chết trong các trại tù cải tạo:
    * 95,000 người.

       - Chết khi đi Lao Động Cưỡng Bức (Đi Vùng Kinh Tế Mới):
    * 48,000 người.

       - Bị sát hại:
    * 460.000 người

       - Bị sát hại ở Lào:
    * 87,000 người

       - Thuyền Nhân Việt Nam:
    * 500.000
    cả tử vong (50% số này bị hải tặc, không do lỗi của chính quyền cộng sản Việt Nam).

    ---------------------

    Democide: The murder of any person or people by a government, including genocide,(xử bắn, hành quyết hàng loạt) politicide,(thanh trừng hàng loạt) and mass murder (giết người hàng loạt). Án mạng gây ra bởi chính quyền, gồm các loại "genocide": bị giết vì bất đồng chính kiến, tôn giáo, chủng tộc... và "mass murder": giết người hàng loạt.



 

 

 

10 toi ac cua dang cong san Viet Nam - Ten Crimes Commentaries on Communist Party

http://www.youtube.com/watch?v=auX6h2kZg3U

Tội Ác Của Hồ Chí Minh & Đảng Cộng Sản Việt Nam

1949-1956: Năm đợt Cài Cách Ruộng Đất: 500 ngàn nạn nhân bị giêt.
1954: Gần 1 Triệu người nạn nhân của Cải Cách Ruộng Đất và Văn Nhân Giai Phẩm đã bỏ Tất Cả để vào Nam tìm Tự Do.
1958: Theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng gởi công hàm thừa nhận yêu sách của Trung Cộng về Biển Đông và hai Quần Đảo Hoàng Sa & Trường Sa.
1968: Tấn công Tết Mậu Thân. Hơn 14000 nạn nhân dân sự, trong số hơn 2000 người bị chôn sống.
1974: Với sự đồng lõa của nhà cầm quyền Hà Nội, Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa của VNCH.
1975:
- Cưỡng chiếm Miền Nam, hai năm sau khi đã ký Hiệp Định Hòa Bình Paris;
- Trại Tù "Cải Tạo", nửa triệu tù nhân khổ sai, hàng chục ngàn thiệt mạng.
1975-1985: Hơn 1 triệu 750 người trốn khỏi Việt Nam (3, 4 trăm ngàn tử nạn).
1979: Chiến tranh giữa Việt Nam và TC, hàng chục ngàn dân Việt mạng vong.
1999-2000: Hai Hiệp Ước, ký lén lút, nhượng Đất Biển của Tổ Quốc cho TC (vùng biên giới và hầu như toàn bộ Biển Đông, với hai Quần Đảo Hoàng Sa & Trường Sa); Đến ngày hôm nay, vẫn chưa có Hiệp Ước hoặc bản đồ nào được công bố...

Tóm lại, kể từ 1945, «chiến tranh giải phóng» của HCM và đảng CSVN đã sát hại hơn 3 triệu (*) người Việt Nam (*) Pierre Darcourt, Ed Albatros, Paris, 1976: Viet Nam, Qu'as-tu fait de tes Fils? Việt Nam, nguơi đã làm gì với đàn con?).

Dẫn tới tình trạng hiện tại: 


- Mất hầu như toàn bộ Biển Đông, và một phần khu biên giới phía Bắc;
- Đại đa số dân chúng sống nghèo khổ mặc dù đã 35 năm hòa bình; ngưng tiếng súng.
- Ngư phủ Việt Nam bị TC khủng bố trắng trợn, đàn áp thẳng tay, thậm chí sát hại trong khu vực đánh cá truyền thống tổ tiên, trước sự im lặng dửng dưng của nhà cầm quyền CSVN.
- Đàn áp thô bạo người bất đồng chính kiến, tín đồ tôn giáo không «quốc doanh».
- Về tự do biểu lộ tư tưởng, năm 2009, «Phóng Viên Không Biên Giới» đã xếp Việt Nam vào hạng thứ 166 trong số 175 quốc gia trên thế giới.
- Buôn bán trẻ em, buôn bán phụ nữ để làm nô lệ tình dục.
- Xuất cảng lao động rẻ tiền (thực chất là nô lệ) khắp thế giới.
- Cho TC (kẻ thù truyền kiếp) «thuê» nhiều vùng đất đai, chiến lược của Tổ Quốc để khai thác bauxite (vô cùng ô nhiễm), với nhân công TC nhập cảnh tự do...
- Cán bộ đảng CSVN trở thành triệu triệu phú USD, với một số không nhỏ là tỷ phú.
- Văn Hóa thoái hóa, Tàu hóa, Xã Hội suy đồi và đồi trụy, chạy theo vật chất bằng mọi giá...
- Việt Nam vẫn thuộc những nước nghèo khổ nhất thế giới, vẫn van xin quốc tế trợ giúp...
(từ 1980 Cho đến năm 2016 vẫn ăn xin quốc tế.)

* * * * *

Les Crimes De Ho Chi Minh & De Son Parti Communiste

1949-1956: Cinq vagues de Réforme Agraire – 500,000 victimes.
1954: Près d’un million de Nord Vietnamiens ont tout quitté pour La Liberté dans le Sud.
1958: Lettre Officielle de Pham Van Dông, sous la houlette de Hô Chi Minh, approuvant les revendications de la Chine sur la Mer de L’Estavec les Iles Paracel et Spratley.
1968: Offensive du Têt – Plus de 14000 victimes civiles dont plus de 2000 enterrés vivants à Huê.
1974: avec la complicité du gouvernement de HaNoi, la Chine envahit l’archipel Paracel de la République du Sud Viet Nam.
1975:
- Invasion du Sud VN 2 ans après le Traité de Paix de Paris.
- Camps de concentration: 1/2 million de prisonniers, des dizaines de milliers de morts…
1975-1985:Plus de 1,7 million ont réussi à fuir le VN (3 ou 4 cent mille ont péri).
1979: guerre entre 2 régimes communistes (Le VN et la Chine) - des dizaines de milliers de victimes.
1999 et 2000: Traités, signés en secret, cédant du territoire national à la Chine, (des zones frontalières du Nord, la quasi-totalité de la Mer de l’Est avec les archipels Paracel, Spratley); A cette date, aucun traité n’est divulgué, aucune carte n’est publiée…

Pour résumer, depuis 1945, la «guerre de libération» de HCM et de son PCV a fait plus de 3 millions (*) de victimes parmi la population vietnamienne
(*) Pierre Darcourt, Edition Albatros Paris 1976 : VietNam Qu’As-Tu Fait De Tes Fils?

Pour arriver à la situation actuelle:

- Perte de la quasi-totalité de la Mer De L’Est et d’une partie de la zone frontalière.
- La grande majorité de la population vit dans la pauvreté malgré 35 ans de paix absolue.
- Des pêcheurs vietnamiens sont ouvertement terrorisés et même tués par l’armée chinoise, dans leurs zones de pêche ancestrales, sans aucune réaction de la part du VN.
- Répression brutale des dissidents et des religieux n’appartenant pas aux organisations d’Etat (le VN est classé, en liberté d’expression, 166/175 par RSF en 2009).
- Traffic d’enfants, traffic de femmes pour l’esclavage sexuel.
- Traffic de «main d’œuvre bon marché» (en réalité des esclaves) pour le monde entier.
- «Location» des zones hautement stratégiques du Territoire National à la Chine (notre ennemi ancestral), qui exploite la bauxite (tragiquement polluante) avec sa propre main d’œuvre venue de Chine, librement…


- Les cadres du PCV sont devenus des multi-millionnaires en USD.
- Déchéance sociale, décadence culturelle…
- Le ViêtNam est encore parmi les plus pauvres du monde, toujours mendiant l’assistance internationale…

 * * * * * 

Crimes Committed By Ho Chi Minh & The Vietnamese Communist Party
 

1949-1956: Five waves of agrarian reforms: 500000 victims.
1954: Almost 1 million people left Everything for Freedom in the South VietNam.
1958: Obeying Ho Chi Minh's decision, Pham Van Dong sent a letter officially approving the claims China made to the sea area in the East, including the islands Paracel and Spratley.
1968: Tet Offensive, more than 14000 civilians killed, and more than 2000 among them buried alive.
1974: Acting in collusion with the Government of Hanoi, China invades the archipelago Paracel belonging to the Republic of Viet Nam.
1975:
- Invasion of South Viet Nam two years after signing the Peace Treaty of Paris.
- Concentration Camps, half a million ARVN prisoners, thousands and thousands died.
1975-1985: More than 1,7 million Vietnamese escaped out of their country (about 3 to 4 hundred thousand died in the sea, maybe more)
1979: War between two communist regimes (VN and China), thousands and thousands lost their lives.
1999-2000: Treaties, signed secretly, yielding national territories to China (the frontier regions in the North, the quasi totality of the sea in the East including the archipelagos Paracel and Spratley. By then, not a treaty revealed, not a map published…

To sum up, since 1945, “the war of liberation "carried out by Ho Chi Minh and the Communist Party has created 3 M (*) victims cut off from the whole population (Pierre Darcourt, Ed Albatros, Paris, 1976 ; 
(*) Viet Nam, Qu'as-tu fait de tes fils? (Viet Nam, What Have You Done to Your Sons?).

Leading to the actual situation:  

– Loss of quasi totality of the sea region in the East and one part of the frontier region.
– The majority of the people live in poverty despite 35 years of absolute peace.
– Vietnamese fishermen are openly maltreated, avowedly terrorized, and even killed by Chinese forces in the traditional fishing regions, Viet Nam kept quiet, showing no reaction.
– Brutal repression to the political dissidents and religious believers, not belonging to the state’s organisations.
– In its 2009 classification in regard to liberty of expression, RWF ranked VN 166 among 175 nations in the world.
– Children trade, women trade for sexual slavery.
– Trade 'labourer cheap price' (in reality selling slaves) all over the world.
– “Leasing” entire strategical zones of the fatherland to China (our perennial enemies) which is exploiting bauxite (very pollutant), with its own workers from the mainland, freely…

– The cadres in the Communist Party become multi-millionaires in USD.
– Vietnam is still among the poorest countries in the world, always begging for international aid…
(2016 still begging aid).


 

Saturday, January 26, 2019

"GIẢI PHÓNG" MIỀN NAM... LẬP LUẬN CỦA VIỆT CỘNG Miền Nam

 

"GIẢI PHÓNG" MIỀN NAM... LẬP LUẬN CỦA VIỆT CỘNG Miền Nam.

Nếu Việt Nam Cộng-Hòa là xấu xa, là tay sai Mỹ, là bán nước hại dân… như các anh nói, thì tại sao dịp Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân người dân Miền Nam đã không đáp ứng lời kêu gọi “Tổng Nổi Dậy” như các anh trông đợi, để nhân dịp đó mà nổi dậy, theo các anh để đập tan họ?

https://youtu.be/Tprx16255iE

Chẳng những người dân Miền Nam không theo các anh, mà ngược lại họ còn chỉ điểm những nơi các anh ẩn nấp, theo hướng các anh tháo chạy… đến nỗi các anh đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đập cho tan tành khiến cho MTGPMN của các anh bị tiêu diệt đến 80%, hạ tầng cơ sở bị lộ, đầu não của họ phải chạy sang Kampuchea ẩn nấp chờ quân Bắc Việt vào tiếp sức.

 photo ltvrdik_Barbed_wire.png
Những kẻ đói rách, chưa biết thế nào là Tự Do Dân Chủ lại đi “giải phóng” người đang ấm no hạnh phúc, đang được hưởng Tự Do… là nghĩa lý gì?
Cũng do ở lòng dân như thế mà ngay sau Tết Mậu Thân 1968 đó, VNCH đã giao 3 trăm ngàn khẩu súng cho dân phố để họ góp phần gìn giữ an ninh cho khu xóm của mình, mà không phải lo họ cầm súng nổi dậy như các anh rêu rao...

Miền Bắc giải phóng Miền Nam là chính đáng?

Nếu ngày xưa Miền Nam cũng dùng chiêu bài của Miền Bắc để giải phóng Miền Bắc (khỏi ách nô lệ Cộng Sản Thế Giới) rồi mở cuộc Bắc tiến, thống nhất đất nước thì sao?

 photo ltvrdik_Barbed_wire.png
Cũng do ở lòng dân như thế mà ngay sau Tết Mậu Thân 1968 đó, VNCH đã giao 3 trăm ngàn khẩu súng cho dân phố để họ góp phần gìn giữ an ninh cho khu xóm của mình, mà không phải lo họ cầm súng nổi dậy
Nhưng Miền Nam đã không làm như vậy! Nam Hàn, Tây Đức cũng không làm như vậy đối với Bắc Hàn và Đông Đức… vì người ta có tình người, không coi sinh mạng con dân như cỏ rác.
Những kẻ đói rách, chưa biết thế nào là Tự Do Dân Chủ lại đi “giải phóng” người đang ấm no hạnh phúc, đang được hưởng Tự Do… là nghĩa lý gì?

Bình Long Trong Cuộc Chiến 1972
Người Miền Nam và những người miền Bắc năm 1954 đã phải bỏ xứ mà di cư vào Nam có cần người cộng sản giải phóng cho họ hay không?


Người miền Nam phải chống lại quân xâm lược ngay trên đất nhà của mình, thì đó là cuộc chiến tranh TỰ VỆ. Các anh đến nhà tôi dùng vũ lực sát hại gia đình tôi thì tôi phải tự vệ, tại sao các anh lại lật lọng cho cho sự tự vệ của người miền nam là là "tàn ác" với các anh?

Khi cộng sản Bắc Việt lập những căn cứ hậu cần ở Lào, Kampuchea rồi đi “giải phóng” Miền Nam, thì ở miền Nam Việt Nam chưa có quân Mỹ hiện diện như ở nam Hàn bây giờ, vậy thì cộng sản Bắc Việt đi giải phóng cái gì ở miền Nam, ở Miên, ở Lào? Khi cộng sản Bắc Việt lập những căn cứ hậu cần ở Lào, Kampuchea rồi đi “giải phóng” Miền Nam, thì ở miền Nam Việt Nam chưa có quân Mỹ hiện diện như ở nam Hàn bây giờ, vậy thì cộng sản Bắc Việt đi giải phóng cái gì ở miền Nam, ở Miên, ở Lào?


https://youtu.be/Bue9tKjONqk

Rồi năm 1973, Mỹ đã rút quân ra khỏi miền Nam, ngưng viện trợ cho VNCH, không can thiệp vào chuyện nội bộ của VN nữa... thì năm 1975 họ giải phóng Miền Nam khỏi cái gì?

Ăn cướp được rồi sao không dám nói thẳng là mình đi ăn cướp?

Chuyện rõ ràng là, từ miền Bắc vác súng đạn Nga Tàu vào Nam tàn sát đồng bào, thì đó là cuộc chiến tranh XÂM LƯỢC!


Tại sao lại có thể mở miệng ra mà nói rằng, ta từ Bắc vô Nam để giết người thì được, còn người miền Nam vì tự vệ mà giết lại ta, thì đó là tội ác?


    Ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chọn nhầm đường lối phát triển theo Liên Xô, sau này họ lại chọn liên kết với Trung Cộng, để bây giờ phải chịu mất đất, mất đảo.

Cộng sản Việt Nam đã ra sức nhồi sọ nhân dân cách nhìn về Miền Nam trên quan điểm của kẻ thắng trận chứ không bằng cái nhìn khách quan dựa trên sự thật!

Người miền Nam phải chống lại quân xâm lược ngay trên đất nhà của mình, thì đó là cuộc chiến tranh TỰ VỆ.

Hệ thống truyền thông của cộng sản Việt Nam luôn miệng chửi rủa người VNCH là bán nước, là ngu, là hèn, là tàn ác… và khi nói đến người Cộng Sản thì chỉ có những lời tuyên dương, mà không hề nói đến những xấu xa của lớp người mà con em họ bây giờ đang ra sức bóc lột, đày đọa đồng bào của họ!


Cộng sản Việt Nam đã ra sức nhồi sọ người dân cách nhìn về Miền Nam trên quan điểm của kẻ kiêu binh chứ không bằng cái nhìn khách quan dựa trên sự thật!

SỰ THẬT thì Cộng Sản mới chính là những kẻ giết dân trong thời loạn, ăn cướp của dân trong thời bình, dâng đất dâng biển cho Tàu, thôn tính miền nam bằng những hành vi tàn ác gian manh, tráo trở, và lật lọng!

Ở đây tôi thử so sánh bằng cách đưa ra những sự kiện thực tế:

1) Kinh Tế

Kinh tế VNCH thời đó không thua bất cứ nước nào trong khu vực, ngoại trừ Nhật Bản!

- Trong khi ở Miền Bắc
“Một năm hai thước vải,
chẳng đủ che cái l…”
,
thì Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa trong Nam có rất nhiều nhà máy dệt vải thừa để xuất cảng ra nước ngoài.

- Trong khi chiếc xe đạp là cả một giấc mơ của người dân Miền Bắc thời đó, thì ở trong Nam đã sản xuất xe hơi La DaLat cho dân mua rẻ hơn xe nhập cảng.


Rồi năm 1973, Mỹ đã rút quân ra khỏi miền Nam, ngưng viện trợ cho VNCH, không can thiệp vào chuyện nội bộ của VN nửa... thì năm 1975 họ giải phóng Miền Nam khỏi cái gì?


- Trong khi bất cứ thành phố nào của VNCH cũng có những “Quán Cơm Xã Hội”, người nghèo, học sinh, sinh viên chỉ bỏ ra một ít tiền tượng trưng là có được bửa ăn no với đủ ba món canh, món mặn, món xào… thì ở MBXHCN phải ăn độn ngô khoai sắn với chế độ “Tem Phiếu Hộ Khẩu”!

2) Chính Trị

Ai cũng thấy rõ điều này, là những kẻ bị kềm kẹp, không hề biết Tự Do Dân Chủ là gì lại đi giải phóng những người đang được hưởng Tự Do!

Các cựu thuộc địa mới giành được độc lập lúc đó đều đứng trước hai lựa chọn chiến lược: phát triển đất nước theo mô thức kinh tế nào và liên kết với những cường quốc nào giữa tự do và cộng sản.

Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc cũng là giai đoạn cáo chung của chủ nghĩa Thực Dân, Phát Xít!
Các cựu thuộc địa mới giành được độc lập lúc đó đều đứng trước hai lựa chọn chiến lược:

- Thứ nhất là phát triển đất nước theo mô thức kinh tế nào.
- Thứ hai là liên kết với những cường quốc nào trong một thế giới đầy tranh chấp.


    Thực chất của việc “Đổi Mới” đó chỉ là bỏ đi những cách làm ăn của cộng sản để từng bước theo những bước Việt Nam Cộng Hòa đã đi mà thôi. Mới của Việt cộng nhưng cũ của VNCH. Lối chơi chữ bịp bợm gạt dân ngu miền bắc.

Việc “Đổi Mới” từ năm 1986, mở cửa để chào đón Tư Bản, hội nhập vào Thế Giới Tự Do của cộng sản VN đã cho thấy ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã chọn đúng con đường, vì thực chất của việc “Đổi Mới” đó chỉ là bỏ đi những cách làm ăn của cộng sản để từng bước theo những bước Việt Nam Cộng Hòa đã đi mà thôi!
Như vậy, chính ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chọn nhầm trong cả hai quyết định chiến lược đó. Họ chọn đường lối phát triển theo Liên Xô, sau phải xóa bỏ vì Liên Xô sụp đổ. Họ chọn liên kết với Trung Cộng, với kết quả bây giờ phải chịu mất đất mất đảo!

https://youtu.be/wHpObUAc89c -
NGƯỜI HÙNG AN LỘC


Việt Nam Cộng Hòa là một con tàu đã đi đúng hướng, và nếu con tàu này không bị chìm trong trời "giông bão Cộng Sản" thì nó đã đến được đích. Rất tiếc là chính người cộng sản đã đánh chìm con tàu đó, nếu không thì ngày nay Châu Á đã có thêm một con Rồng, và con Rồng Việt Nam có thể chẳng kém gì Nhật Bản!

3)Văn Hóa & Xã Hội

Cái guồng máy cai trị của Cộng Sản VN ngày nay đã nức tiếng với những con người tồi tệ về nhân phẩm: gian tham, ăn cắp, lừa bịp, nịnh hót cấp trên thô tục với cấp dưới… một cách có hệ thống!


    "… ít ra họ cũng đã xây dựng được một xã hội Miền Nam tốt đẹp về tinh thần và vật chất tuy có khiêm tốn nhưng vẫn hơn xa Miền Bắc…”

Ai chối cãi rằng Chính Quyền VNCH ngày xưa có những con người tồi tệ! Nhưng ít ra họ cũng đã xây dựng được một xã hội Miền Nam tốt đẹp về tinh thần và vật chất tuy có khiêm tốn nhưng vẫn hơn xa Miền Bắc!
Một trong những yếu tố để đánh giá người lãnh đạo quốc gia là nhìn vào đời sống xã hội của nước đó! Qua yếu tố này thì rõ ràng lãnh đạo miền Nam không thể tồi tệ hơn lãnh đạo miền Bắc được!

Vài ví dụ nhỏ:

- Dưới thời VNCH, học sinh bậc Tiểu Học không phải đóng học phí, trường Trung Học Công lập cũng vậy! Trong khi đó, ngay cả khi đất nước đã thống nhất, hòa bình mà cho đến ngày nay 36 năm sau, học sinh sinh viên Việt Nam vẫn phải đóng đủ thứ tiền mới đến được trường. Tồi tệ hơn nửa là đang có vô số trẻ em phải bỏ học vì nghèo!

- Thời VNCH, bệnh nhân nếu đến bệnh viện Công thì không phải trả viện phí, thuốc men không tính tiền, kể cả ngành Nha khoa. Còn VN cho đến ngày nay thì giường bệnh ít hơn chỗ nằm trong nhà tù, bệnh nhân phải về nhà chờ chết vì không tiền trả viện phí, phải đút lót ngay cả cho ý tá, bác sĩ!

- Ngày họ cưỡng chiếm được Miền nam, thì họ gọi Văn Hóa Miền nam là “văn hóa đồi trụy”, ngày nay cái “văn hóa đồi trụy” đó đang ngự trị trong tim trong óc người Việt cả nước!

4) Quân Sự

Những yếu tố để đánh giá về cái tài của người chỉ huy quân sự là con số thương vong của quân sĩ và sự thắng bại của những cuộc giao tranh.
Về điểm này thì cấp chỉ huy quân sự Miền Nam có nhiều người kém tài, hèn nhát… Nhưng cấp chỉ huy của Miền Bắc nào có hơn gì đâu?

Mất Hoàng Sa vì vào thời điểm đó, quân Việt cộng miền bắc dốc toàn lực tấn công trên đất liền, buộc lực lượng Tổng Trừ Bị của VNCH phải trải quân ra khắp nơi để đối phó, không thể tham gia trận chiến Hoàng Sa.

- Con số thương vong của Quân Lực VNCH là 260 ngàn, trong khi của Bộ Đội CSBV là 1,8 triệu! Con số đó nói lên tất cả! Thử hỏi với con số thương vong như thế, nếu Mỹ không lui, không ngưng viện trợ cho VNCH, Nga Tàu không bơm tới tấp cho Bắc Việt, thì đến nay con số đó đã như thế nào?

- Trong suốt chiều dài cuộc chiến, đặc biệt là Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 thì QLVNCH chỉ thua hai trận là trận Lam Sơn 719 đánh qua Hạ Lào (thua vì vấn đề tình báo bị lộ), và trận chiến Hoàng Sa với Trung Cộng năm 1974 (Mất Hoàng Sa vì vào thời điểm đó, quân CSBV dốc toàn lực tấn công trên đất liền, buộc lực lượng tổng trừ bị của VNCH phải trải quân ra khắp nơi để đối phó, không thể tham gia trận chiến Hoàng Sa)! Còn lại thì QLVNCH không hề thua bất cứ một trận lớn nhỏ nào cả trong suốt chiều dài cuộc chiến đó!


Còn cái chiến thắng cuối cùng 30/4/1975 lại là chuyện khác, nó không thuộc lĩnh vực Quân Sự. Phải lấy công tâm mà nói điều đó...

Còn cái chiến thắng cuối cùng 30/4/1975 lại là chuyện khác, nó không thuộc lĩnh vực Quân Sự. Phải lấy công tâm mà nói điều đó.
QLVNCH nói chung là đã buông súng vì không còn đạn dược, nhiên liệu… Quân CSBV chỉ việc đến chiếm những thành phố đã bị bỏ ngõ, nhiều nơi bỏ ngõ cả tuần rồi mà họ cũng chưa đến được để tiếp thu!


Nếu ngày xưa Bắc Việt được như Đông Đức, Bắc Triều Tiên để đừng xem sinh mạng con dân như cỏ rác, đừng bị Quốc Tế Cộng Sản biến thành những con vật hy sinh, đừng bị Trung Cộng biến thành con chó gác nhà giữ ngõ cho nó để xua quân đi gây chiến ở Miền Nam, thì ngày nay ít nhất đất nước Việt Nam cũng đã có một Miền Nam phồn thịnh, như Nam Hàn so với Bắc Hàn bây giờ!

Các anh Giải Phóng hay các anh Ăn Cướp?

 

******************************************

 

 


5

https://youtu.be/5YX8FnQVtVg

 

 


2

 

https://youtu.be/4Ppl1pS_WTU

 

https://youtu.be/4Ppl1pS_WTU

 

 

Chẳng những người dân Miền Nam không theo các anh, mà ngược lại họ còn chỉ điểm những nơi các anh ẩn nấp, hướng các anh tháo chạy đến nỗi các anh đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đập cho tan tành khiến cho MTGPMN của các anh bị tiêu diệt đến 80%, hạ tầng cơ sở bị lộ, đầu não của họ phải chạy sang Kampuchea ẩn nấp chờ quân Bắc Việt vào tiếp sức.

Đọc thêm: Miền bắc đưa quân lòn đường rừng vào xâm lược miền nam, trong khi Việt cộng nằm vùng miền nam tiếp tay Việt cộng miền bắc để khủng bố dân lành trong nam.


Đặc Công Văn Hóa Miền Nam

Đặc công chuột Việt cộng mắc kẽm gai

Tại sao người dân gọi việt cộng là chuột? Vì họ thường rút vào các lỗ Củ Chi ăn thông với nhau trong lòng đất, đêm đến thì bò ra thì phá hoại, giết chóc dân và lính miền nam.

 

=======================================

 

Súng của Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa



Phi Long

Súng trường MAS 36, do Pháp chế tạo





Cỡ đạn: 7.5 x 54 mm
Trọng lượng: 3.7 kg (không có gắp đạn)
Chiều dài: 1020 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853.6 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 270 m – 450 m
Băng đạn: 5 viên đạn


Súng tiểu liên Thompson, M1928, Mỹ chế tạo



--


Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 4.9 kg (kiểu M128A1), 4.8 kg (kiểu M1A1)
Chiều dài: 850 mm (kiểu M128A1), 810 mm (kiểu M1A1)
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 285 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 50 m.
Tốc độ bắn: 500 – 1500 phát/phút (tùy theo kiểu)
Băng đạn:
  • Băng đạn 20 viên
  • Băng đạn 30 viên
  • Băng đạn tròn 50 viên
  • Băng đạo tròn 100 viên
 Đạn của súng Thompson
Súng tiểu liên Thompson được sáng chế bởi viên tướng Mỹ John T. Thompson. Trong thời  Đệ Nhất Thế Chiến, quân Anh, Pháp và quân Đức gìm nhau tại chiến lũy Magino. Hai bên đào công sự dài hàng chục cây số để phòng thủ cho phần đất của mình. Thỉnh thoảng một bên xung phong qua phía bên kia bắn vào quân sĩ địch đang núp dưới hầm. Ông Thompson nảy ra ý kiến là nên có khẩu súng bắn liên thanh, vãi đạn ra thật nhiều để quét vào binh sĩ địch đang núp thành hàng dài dưới hầm thì sẽ giết được nhiều quân địch hơn là dùng súng bắn phát một. Vì thế ông nghĩ ra khẩu tiểu liên này. Nhưng khẩu súng này chưa làm xong thì Thế Chiến 1 đã chấm dứt. Sau đó, súng này vẫn được phát triển thêm và được sử dụng trong Thế Chiến thứ 2 và những năm sau Thế Chiến thứ 2.

 John Thompson, cha đẻ của tiểu liên Thompson, hình chụp năm 1921

Khẩu tiểu liên Thompson cũng được dân anh chị băng đảng tội phạm Mafia ở Mỹ ưa chuộng vì sự lợi hại bắn được nhiều đạn. Một băng đạn súng Thompson có thể chứa đến 30 viên nếu là băng thẳng, nếu dùng hộp tròn thì có thể chứa đến 100 viên. Dùng súng này tưới đạn vào địch thủ đang ngồi trong xe hơi hay đang ngồi trong nhà thì khả năng giết kẻ địch rất là cao. Dân giang hồ Mỹ gọi đây là khẩu Tomy Gun, Tomy là chữ gọi chệch ra từ chữ Thompson.

Trong chiến tranh chống Pháp, cả hai bên Pháp và Việt đều có sử dụng súng này. Pháp được Mỹ viện trợ cho súng này còn Việt Minh thì tịch thu được của Pháp để dùng. Sau này, khi Pháp rút đi thì các súng Thompson được để lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam.

Súng Thompson có lợi điểm là mang nhiều đạn và ít bị kẹt đạn. Khuyết điểm của súng là vì đạn 12 mm nên sức giật rất mạnh. Người bắn bị giật mạnh nên khó nhắm chính xác. Một nhược điểm nữa là đầu đạn tròn và tầm bắn không xa. Nếu bắn từ xa thì không xuyên thủng được mũ sắt hoặc xe cộ. Một số tay anh chị Mỹ thấy khẩu Thompson chưa đủ mạnh nên sử dụng súng trung liên Browning M1918 vì đạn súng này có sức xuyên phá mạnh, có thể xuyên thủng xe hơi từ xa.



Súng lục Ru lô (rouleau) .38, Mỹ chế tạo





Cỡ đạn: .38 Special, 9.6 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 250 m/s – 300 m/s

Súng gồm sáu viên đạn đựng trong ổ đạn quay tròn. Ổ đạn này tiếng Pháp gọi là rouleau, đọc là ru lô, nên thường được gọi là súng ru lô. Vì cỡ đạn là .38 caliber nên cũng thường được gọi là súng lục 38. Vì súng có sáu viên đạn nên loại súng ngắn này được gọi là súng lục (lục là sáu, tiếng Hán Việt).

Khi muốn nạp đạn thì đẩy chốt bên trái, ổ đạn tròn có sáu lỗ tròn sẽ bật sang bên trái . Sáu viên đạn được nạp vào sáu lỗ. Sau khi đã nạp đạn thì đẩy ổ đạn vào bên trong súng. Khi bắn thì bật cò phía sau lên rồi bóp cò. Đầu cò sẽ mổ vào viên đạn nằm ngay trước nòng súng. Sau khi viên đạn bắn đi thì ổ đạn tròn sẽ quay qua một nấc để viên đạn kế tiếp vào nằm ngay trước nòng súng. Người bắn tiếp tục bóp cò để bắn viên đạn kế tiếp. Cứ thế cho đến khi ổ đạn quay hết một vòng thì súng bắn hết sáu viên đạn.




Súng lục Colt 45, M1911, Mỹ chế tạo




 Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 1.1 kg (không có đạn)
Chiều dài: 21 cm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 251 m/s
Băng đạn: gồm 7 viên đạn, được gắn vào súng phía dưới tay cầm

Súng này thường được gọi là Colt 45 vì dùng cỡ đạn calibre .45.  Vào thời Pháp, súng này cũng được gọi là Colt Đui . Đui là đọc từ tiếng Pháp douze tức là 12. Người Pháp gọi theo cỡ đạn bằng mm vì đạn calibre .45 có đường kính gần 12 mm. Đây là loại súng được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước từ thời Thế Chiến 1 qua Thế Chiến 2 và đến tận thập niên 1980. Ngày nay vẫn còn được sử dụng nhiều. Súng này sử dụng đạn cùng cỡ với khẩu tiểu liên Thompson.

Súng Colt 45 được quân đội Mỹ sử dụng từ năm 1911. Vì súng ru lô sức công phá yếu nên quân đội Mỹ thấy cần có loại súng lục mạnh hơn. Súng Colt 45 đã bắn thi với một khẩu súng khác và được quân đội Mỹ chọn sau khi đã qua nhiều cuộc thi. Một trong những thử thách đó là bắn 6000 viên đạn liên tục trong hai ngày, hai đêm. Súng được bắn liên tục khi nòng súng nóng đỏ lên thì nhúng vào nước cho nguội lại rồi bắn tiếp. Trong cuộc thử thách này súng Colt đã không bị lỗi nào trong khi khẩu súng kia có 37 lỗi.

Súng Colt 45 trông có hình vuông vì nòng súng được che phủ bằng một miếng thép có cạnh vuông . Miếng thép này có thể trượt được. Khi muốn lên cò súng thì người bắn cầm miếng sắt này kéo về phía sau rồi buông tay ra .  Súng Colt 45 dùng sức giật của viên đạn để lên cò súng . Nhưng không dùng nguyên tắc trích khí như các súng đời sau. Khi viên đạn nổ, sức nổ đẩy đầu đạn đi đồng thời tạo ra một lực đẩyvề phía sau. Lực này đẩy nòng súng và miếng sắt trượt ra phía sau. Ở giai đoạn này, nòng súng và miếng sắt trượt khóa vào nhau nên trượt ra phía sau cùng một lúc. Đến nửa đường, nòng súng hạ thấp xuống và không còn khóa vào miếng sắt trượt nữa. Miếng sắt trượt tiếp tục trượt ra sau, dùng sức đẩy của đạn để móc vỏ đạn ném ra ngoài . Khi lò xo kéo miếng sắt trượt ra phía trước thì nó sẽ đẩy một viên đạn mới từ gắp đạn lên rồi khóa vào nòng súng, đi cùng với nòng súng ra phía trước.

Súng Colt 45 có sức công phá rất mạnh vì bắn đạn đường kính 12 mm. Vì đạn lớn nên sức giật của súng rất mạnh. Có người nói súng này có thể bắn chết voi.


Colt 1911 .45 Shooting











Súng trường Garand M1




Cỡ đạn: .30-06 (7.62×63 mm)
Băng đạn: 8 viên đạn
Chiều dài: 1103 mm
Trọng lượng: 4.32 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 400 m

Súng Garand được trang bị cho quân đội Mỹ trước Đệ Nhị Thế Chiến và được quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong Đệ Nhị Thế Chiến và chiến tranh tại Đại Hàn. Súng Garand là súng bắn phát một được xếp vào loại semi-automatic, bán tự động, vì súng dùng nguyên tắc trích khí của viên đạn nổ ra để đẩy cò súng về phía sau và lên đạn. Sở dĩ gọi là bán tự động là vì các thế hệ súng trước đó không dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng nên mỗi lần bắn xong, xạ thủ phải lên cò súng rồi mới bắn tiếp. Còn với súng Garand, sau khi bắn một phát, thì súng tự động lên cò súng, xạ thủ chỉ cần bóp cò để tiếp tục bắn. Chỉ gọi là bán tự động vì súng chưa phải là hoàn toàn tự động, fully automatic, như các thế hệ súng về sau. Các súng tiểu liên về sau cũng dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng, nhưng để cho cò súng tự động mổ vào viên đạn để bắn luôn. Xạ thủ chỉ cần tiếp tục giữ ngón tay bóp cò thì súng sẽ tự động bắn hết cả băng đạn.

Súng trường Garand được được sử dụng nhiều trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng với súng trường Carbine. Súng Garand bắn xa và chính xác. Tuy nhiên súng khá dài và nặng. Đạn được nạp vào súng bằng một gắp đạn gồm tám viên đạn. Sau khi bắn hết đạn, thì gắp đạn tự động rơi ra ngoài, xạ thủ sẽ nạp gắp đạn khác.

 Gắp đạn của súng Garand M1

Súng trường Carbine M1, M2, M3, M4, Mỹ chế tạo





Cỡ đạn: .30 Carbine (7.62×33mm)
Băng đạn: 15 hoặc 30 viên đạn
Trọng lượng: 2.4 kg (không có băng đạn)
Chiều dài: 900 mm
Tốc độ bắn:
  • M1 bắn từng phát một
  • M2, M3 từng phát một hoặc ba phát liên tiếp với tốc độ 850 – 900 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 607 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 180 m

Vì súng trường Garand dài và nặng, nên Bộ Quốc Phòng Mỹ yêu cầu một khẩu súng nhẹ hơn. Gọi là súng Carbine mà không phải là Rifles vì chữ Carbine phát xuất từ chữ Carabine của Pháp. Vào thời súng trường mới xuất hiện, súng trường, tiếng pháp là Fusil, tiếng Anh là Rifle, rất dài và do bộ binh mang. Còn kỵ binh mang súng trường thì quá dài, vướng víu. Vì thế loại Carabine được chế tạo để cho kỵ binh dùng. Loại súng này ngắn hơn để kỵ binh có thể đeo bên mình ngựa mà không chạm đất và để kỵ binh có thể ngồi trên mình ngựa mà sử dụng. Súng Carbine nhẹ, ngắn, cũng dùng đạn 7.62 mm nhưng viên đạn ngắn hơn nên tầm bắn không xa bằng Garand. Tuy nhẹ nhưng Carbine có sức công phá yếu hơn súng Garand. Có nhiều trường hợp không xuyên thủng được áo giáp địch và phải bắn nhiều phát mới hạ được địch thủ. Súng Garand và Carbine là hai loại súng chính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cho đến cuối thập niên 1960 thì bắt đầu được trang bị súng M-16.



Súng tiểu liên M16



Cỡ đạn: 5.56 x 45 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 948 m/s
Tốc độ bắn:
  • 12 – 15 phát/phút, bắn chậm
  • 45 – 60 phát/phút, bắn ba phát một
  • 700 – 950 phát/phút, bắn liên thanh
Tầm bắn hiệu quả:
  • 550 m, ngắm chính xác
  • 800 m, bắn vào một vùng rộng
Trọng lượng: 3.26 kg
Chiều dài: 1000 mm
Chiều dài nòng súng: 508 mm
Băng đạn:
  • 20 viên, thời chiến tranh tại Việt Nam
  • 30 viên, dùng trong khối NATO hiện nay
Súng M-16 xuất hiện tại miền Nam vào giữa và cuối thập niên 1960. Đó là một khẩu súng có hình dáng kỳ lạ. Súng thẳng như một cây gậy và đen chùi chũi. Báng súng không cong xuống mà chạy thẳng và làm bằng nhựa chứ không làm bằng gỗ. Trên thân súng lại có quai xách.

Súng M-16 được thiết kế sau khi có các nghiên cứu cho thấy là phần lớn các sát thương do súng tiểu liên xảy ra ở khoảng cách trung bình 300 m chứ không phải ở khoảng cách xa. Các súng tiểu liên trước đây vì sức giật mạnh nên khi bắn sức giật làm nòng súng hất lên cao và đạn tỏa ra nên không chính xác, ít trúng mục tiêu.

Súng M-16 được làm thẳng để lực giật đi thẳng vào vai người bắn. Các khẩu tiểu liên trước đây có báng súng cong xuống để khi người bắn tì báng súng vào vai thì thân súng cao ngang tầm mắt để người bắn ghé mắt vào mà nhắm. Với báng súng làm thấp xuống như vậy thì trục của nòng súng chạy cao hơn điểm báng tì vào vai. Vì thế lực giật của súng tạo ra một momen quay theo chiều làm nâng nòng súng lên. Nòng súng sẽ bị ngóc lên khi bắn liên thanh nên chỉ có vài viên đạn đầu là bắn gần mục tiêu còn các viên đạn sau thì bị tỏa đi mất.

Với súng M-16, trục của nòng súng đi thẳng đúng vào điểm báng súng tựa vào vai nên khi bắn liên thanh, khuynh hướng nòng súng bị ngóc lên giảm đi rất nhiều. Vì làm báng súng thẳng nên khi tì báng súng vào vai thì thân súng nằm khá thấp so với tầm mắt người bắn. Vì thế đầu ruồi và điểm ngắm sau của súng phải nâng cao lên. Điểm ngắm phía sau được nâng cao lên và làm thành quai xách súng.

Cũng để làm giảm thiểu việc nòng súng bị hất lên vì sức giật, súng M-16 sử dụng cỡ đạn nhỏ hơn để đạt được các ưu điểm sau:

Vì đạn nhỏ sức giật yếu hơn, khiến cho súng ít bị hất lên cao và vẫn tập trung vào mục tiêu.

Ngoài ra, đạn nhỏ và sức giật nhẹ nên lò xo đẩy thanh nạp đạn có thể đẩy nhanh hơn nên tốc độ bắn liên thanh rất cao. Nhờ thế có thể bắn cho nhiều viên đạn cùng thoát ra khỏi nòng cùng một lúc có thể đến đúng mục tiên trước khi nòng súng bị hất lên vì sức giật.

Theo báo cáo của nghiên cứu về đầu đạn nhỏ thì một đầu đạn 5,56 mm được bắn đi với vận tốc nhanh 900 m/giây có sức công phá ngang với đầu đạn cỡ 7,62 mm được bắn đi với tốc độ chậm hơn 700 m/giây.

Ở tầm xa trên 500 m thì đầu đạn nhỏ bị sức gió thổi tạt đi nhiều hơn là đầu đạn lớn. Nhưng cũng ở tầm trên 500 m thì đầu đạn lớn sẽ rơi xuống nhanh hơn đầu đạn nhỏ vì nặng hơn nghĩa là kém chính xác hơn đầu đạn nhỏ.

Một lợi điểm khác của đầu đạn nhỏ là vì đạn nhẹ hơn nên một người lính sử dụng súng với đầu đạn 5,56 mm có thể mang số lượng đạn gấp đôi số lượng đạn với đầu đạn 7,62 mm.

Việc chọn đầu đạn nhỏ có ưu và khuyết điểm của nó. Người thiết kế súng M-16 chọn đầu đạn nhỏ để lấy ưu điểm có khả năng sát thương cao trong tầm bắn 300 mét là tầm sát thương xảy ra phần lớn trên chiến trường.

Do lợi điểm của đầu đạn nhỏ nên ngày nay, nhiều nước chế tạo súng tiểu liên đã chọn cỡ đạn nhỏ tương đương với cỡ đạn của súng M-16.

Khi súng M-16 được đem sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên, súng hay bị kẹt đạn. Lý do là vì hãng Colt đã đổi loại thuốc đạn mà không dùng loại thuốc đạn của người thiết kế. Loại thuốc đạn mới này đóng cặn trong nòng súng làm cho kẹt đạn. Lại thêm cách cấu tạo của súng M-16 đòi hỏi phải giữ cho súng luôn luôn sạch sẽ, nếu bị đất cát lọt vào trong súng sẽ làm súng bị kẹt đạn. Điều này ít xảy ra với súng AK-47. Lý do súng AK-47 ít bị kẹt đạn là vì AK-47 trích khí khi đạn nổ để đẩy một piston thật mạnh. Tuy bị đất cát lọt vào lòng súng nhưng nhờ sức đẩy mạnh của piston nên súng vẫn hoạt động được. Súng M-16 không dùng piston này mà chỉ trích khí từ đạn nổ để đẩy một thanh lên đạn nằm thẳng hàng với nòng súng. Người thiết kế súng M-16 tránh không dùng piston để đẩy mạnh bộ máy cò vì một piston nặng khi đẩy ra phía sau khi dừng lại sẽ tạo ra một lực giật thật mạnh. Vì piston nằm bên trên trục nòng súng nên lực này tạo ra một momen làm nòng súng bị hất lên. Khi piston bị đẩy ra phía trước rồi dừng lại cũng sẽ tạo ra lực giật mạnh về phía trước. Lực này tạo ra một momen kéo nòng súng chúi xuống. Piston nằm phía trên nòng súng, nghĩa là lệch trục với nòng súng mà giật tới giật lui liên tục trong khi bắn liên thanh thì sẽ làm cho nòng súng bị rung liên tục, súng sẽ bắn kém chính xác. Người thiết kế súng M-16 đặt sự chính xác của súng làm ưu tiên cao nhất nên loại bỏ những nguyên nhân có thể làm cho nòng súng bị rung trong khi bắn.

Vào thời đó những người sử dụng súng M-16 nhận thấy khi bắn trúng địch thủ thì viên đạn xoáy trong cơ thể người bị trúng đạn phá ra một vùng rất lớn làm cho vết thương trầm trọng hơn. Lúc đầu có người nghĩ có lẽ vì đạn súng M-16 xoáy rất mạnh nên khi chui vào cơ thể nó tiếp tục xoáy gây ra vết thương vỡ toác thật lớn. Thật ra, đạn phá ra lớn là do sức xoáy của viên đạn yếu. Khi viên đạn có tốc độ xoáy cao thì viên đạn sẽ luôn luôn đi thẳng, đầu đạn nhọn sẽ đi trước và viên đạn sẽ chui vào cơ thể rồi đi ra ngoài. Vì tốc độ xoáy của đạn M-16 yếu nên khi chạm vào da thịt người, viên đạn sẽ lộn vòng, không còn đi thẳng như trước nên phá ra một vùng rất lớn trong cơ thể. Cũng vì sức xoáy yếu nên đầu đạn khó đi thẳng, do đó sức xuyên phá yếu. Các thế hệ súng M-16 sau này đã cải tiến để làm gia tăng sức xuyên phá bằng cách tăng tốc độ xoáy của viên đạn và làm cho trọng lượng viên đạn nặng thêm một chút.

Trọng lượng của súng M-16 cũng được giảm bớt đi đáng kể so với các đời súng trước vì các nghiên cứu cho thấy rằng, phần lớn các cuộc chạm súng xảy ra trên chiến trường đều xảy ra bất ngờ. Trong phần lớn trường hợp, có đến hai phần ba người lính bị giết vì trở tay không kịp. Vì thế trọng lượng súng được làm nhẹ đi để người sử dụng có thể dùng súng một cách linh hoạt hơn. Để giảm trọng lượng của súng, nhiều bộ phận kim loại được làm bằng nhôm, là loại kim loại nhẹ hơn thép, và thân súng làm bằng nhựa tổng hợp, nhẹ hơn làm bằng gỗ.





Binh sĩ Biệt Động Quân trang bị súng M-16 trong trận Tổng Công Kích, Tết Mậu Thân 1968

Súng tiểu liên Colt Commando, X177E2


Chiều dài: 826 mm
Trọng lượng: 2.43 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 838 m/s
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Chiều dài nòng súng: 292 mm

Súng Colt Commando X177E2 được ra đời khi binh sĩ Mỹ than phiền là khẩu súng M-16 quá dài nên khó xoay trở trong rừng rậm. Hãng Colt sửa đổi khẩu súng M-16 bằng cách làm nòng ngắn đi, gắn báng súng có thể thụt vào và kéo dài ra. Có 520 khẩu súng này được đưa vào miền Nam năm 1967 để tranh bị cho lực lượng đặc biệt MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) chuyên thi hành các công tác trinh sát, bắt cóc, phá hoại thường phải hoạt động trong rừng núi, di chuyển bằng phi cơ, tàu thuyền nên cần vũ khí có hỏa lực mạnh và gọn nhẹ. Sau khi quân đội Mỹ rút đi vào năm 1971 thì các khẩu súng này để lại cho lực lượng biệt kích của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Hãng Colt chấm dứt sản xuất loại súng này vào năm 1970 vì thấy súng có một số khuyết điểm cần phải nghiên cứu tốn kém để cải thiện nhưng không được sự tài trợ của chính phủ để làm công việc nghiên cứu.

 Biệt kích Lôi Hổ đeo súng Colt Commando (bên trái)

Súng trung liên Browning M1918A2


Cỡ đạn: .30-6 Springfield
Băng đạn: 20 viên
Trọng lượng: 8.8 kg
Chiều dài: 1,110 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tốc độ bắn: 500-650 phát/phút
Chiều dài nòng súng: 611 mm
Tầm bắn hiệu quả: 1300 m
Tầm bắn tối đa: 4500 m

Súng trung liên M1918A2 được chế tạo từ năm 1918 để trang bị cho quân đội Mỹ trong Thế Chiến Thứ Nhất . Khẩu súng này lúc đầu được thiết kế để người lính cầm ngang hông mà bắn trong khi xung phong. Nhưng trong thực tế phần lớn trường hợp thì sử dụng súng để trên mặt đất với hai chân chống phía trước.

Súng trung liên Browning Automatic Rifle, gọi tắt là BAR, có tầm bắn xa, có sức công phá và sức xuyên thủng thép mạnh. Súng này được quân đội nhiều nước sử dụng trong cả hai trận Thế Chiến. Loại súng này được trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào thời kỳ đầu của cuộc chiến, nghĩa là cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960.

Một người lính Thủy Quân Lục Chiến sử dụng súng trung liên

Súng đại liên 30, M1919



Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm NATO
Chiều dài: 964 mm
Trọng lượng: 14 kg
Tốc độ bắn: 400 – 600 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 850 m/s
Băng đạn: 250 viên
Tầm bắn hiệu quả: 1400 m

Đây là loại súng đại liên nhẹ, vì cỡ đạn là .30 caliber nên được gọi là đại liên 30. Đại liên này được sử dụng bởi ba người khi đi hành quân: một người mang súng, một người mang chân và người thứ ba mang đạn. Súng này có thể được nhận ra dễ dàng với nòng súng có những lỗ. Đó là lớp vỏ che ngoài nòng súng vì khi bắn được một lúc, nòng súng sẽ nóng lên, đụng vào bỏng tay nên cần một lớp vỏ che. Lớp vỏ này có đục lỗ để hơi nóng thoát ra ngoài.

Ngoài việc trang bị cho bộ binh, súng đại liên 30 cũng được gắn trên xe bọc thép, tàu đi tuần trên sông. Súng đại liên 30 là đại liên được quân đội Việt Nam Cộng Hòa sử dụng nhiều cho đến đầu thập niên 1960. Sau đó, khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị bằng loại đại liên mới M-60 thì đại liên 30 cũng vẫn được tiếp tục sử dụng.



Súng đại liên 50, M2HB



Cỡ đạn: .50 BMG (Browning Machine Gun) (12.7 mm x 99 mm)
Băng đạn: nạp đạn bằng dây đạn đựng trong hộp đạn gắn bên cạnh súng
Vận tốc đạn khi ra khỏi nòng: 890 m/giây
Vận tốc bắn: 450 – 630 phát/phút
Tầm bắn hiệu quả: 1800 m
Tầm bắn tối đa: 2000 m
Trọng lượng: 38 kg
Trọng lượng với chân đứng: 58 kg
Chiều dài: 1656 mm
Chiều dài nòng súng: 1143 mm

Đại liên 50 được gọi tên theo cỡ đạn caliber .50. Đây là loại súng máy hạng nặng được gắn trên xe thiếp giáp, trên tàu, phi cơ. Súng đại liên 50 có thể dùng để chống bộ binh, có khả năng xuyên thủng xe cộ, thuyền không bọc thép hay xuyên thủng xe bọc thép hạng nhẹ. Súng đại liên 50 cũng có thể dùng bắn phi cơ bay ở cao độ thấp.

Đại liên 50 được gắn trên xe tăng

Súng đại liên M60

 
Chiều dài: 1105 mm
Chiều dài của nòng: 560 mm
Trọng lượng: 10,5 kg
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm
Tốc độ bắn: 500 – 650 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 1100 m

Súng đại liên M-60 tương đối mới so với các loại súng máy khác như đại liên 30, đại liên 50 hay trung liên Browning M1918A2 . Các súng máy kia được thiết kế từ thời Đệ Nhất Thế Chiến trong khi súng M-60 được nghiên cứu để chế tạo sau Đệ Nhị Thế Chiến và được đưa vào sử dụng trong quân đội Mỹ vào năm 1957.

Vì thiết kế thân súng theo đường thẳng nên  một phần của bộ máy cò được đưa ra phía sau nằm một phần trong báng súng nên thu ngắn được chiều dài của súng. Súng đại liên M-60 được thiết kế nhẹ hơn các loại súng máy trước đây, mặc dù cũng vẫn bắn cùng cỡ đạn nên có thể bắn với tư thế tựa trên vai, ôm bắn ngang hông. Súng cũng có thể được gắn hai chân phía trước hoặc đặt trên giá có ba chân.

Đạn được nạp qua một dây đạn dài, nên có khi xạ thủ quấn dây đạn quanh người khi di chuyển. Đại liên M-60 thay thế cho các loại đại liên trước đó khi được gắn vào xe thiếp giáp, tàu thuyền, máy bay trực thăng.

Đại liên M-60 hiện nay được sử dụng rộng rãi tại hơn ba mươi quốc gia trên thế giới.




Súng phóng lựu M79



Chiều dài: 731 mm
Chiều dài nòng súng: 375 mm
Trọng lượng: 2.39 kg (khi có nạp đạn)
Cỡ đạn: 40 x 46 mm đầu đạn có mang chất nổ
Bắn phát một. Tốc độ vừa bắn vừa nạp đạn: 6 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 76 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 350 m
Tầm bắn tối đa: 400 m

Súng M-79 được gọi là súng phóng lựu vì mỗi viên đạn súng phóng ra thật sự là một quả lựu đạn. Đầu đạn của M-79 tròn to đường kính 40 mm, bên trong có chứa chất nổ và 300 mảnh kim loại nhỏ. Khi đầu đạn nổ sẽ bắn ra các mảnh kim loại, gây sát thương trong vòng tròn đường kính 5 mét.

Súng M-79 được đưa vào sử dụng năm 1961 và chiến trường được sử dụng đầu tiên là tại Việt Nam.

Cách sử dụng súng M-79 khá giản dị. Để nạp đạn, súng được bẻ gập ra phía trước và nạp đạn vào trong nòng súng. Sau đó, xạ thủ gấp súng lại, gài chốt khóa và bóp cò bắn. Súng có thể bắn thẳng hoặc bắn vòng cầu. Trên thân súng phía sau có bộ phận ngắm làm theo dạng nấc thang, có nhiều nấc. Người bắn chỉnh thanh ngắm vào các nấc, tùy theo bắn xa gần. Có thể bắn xa từ 75 mét đến 375 mét. Cứ mỗi nấc khoảng cách tăng lên 25 mét.

Súng M-79 gấp xuống

Bộ phận ngắm có thể chỉnh cao thấp tùy theo tầm bắn


Súng bắn vòng cầu, nòng súng chĩa cao hơn khi muốn bắn xa

Để tránh cho viên đạn nổ quá gần, gây thương tích cho người bắn và đồng đội, viên đạn súng M-79 có khóa an toàn, khi viên đạn bay xa khoảng 30 mét thì khóa an toàn mới được mở ra. Khóa an toàn là loại xoay vòng xoắn, khi khóa xoay đủ số vòng thì khóa an toàn mới được mở ra. Như vậy, lúc bắn đi nếu viên đạn chạm phải bức tường hay cành cây mà rơi xuống gần người bắn thì viên đạn vẫn không nổ vì khóa an toàn chưa xoay đủ vòng của nó.

Súng M-79 cung cấp hỏa lực cho bộ binh ở vào tầm giữa súng cối 60 ly và lựu đạn ném tay. Súng cối 60 ly bắn xa từ vài trăm mét đến 3 kilometre. Lựu đạn ném tay thì chỉ ném xa được vài chục mét. Súng M-79 bắn vào khoảng giữa từ 75 mét đến 400 mét.

Súng M-79 với đầu đạn nổ làm bắn ra hàng trăm mảnh nhỏ hiển nhiên là loại vũ khí chống chiến thuật biển người. Có lẽ Mỹ nhận thấy trong chiến tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ đã nhiều lần phải rút lui vì Trung Quốc dùng chiến thuật biển người. Vào thời đó, phần lớn binh sĩ Mỹ chỉ trang bị súng bắn phát một và trong nhiều trường hợp hỏa lực không đủ mạnh để ngăn chặn làn sóng người xông lên.



Một nhược điểm của súng M-79 là do trọng lượng của súng và đạn khá nặng nên một người lính khi mang súng M-79 thì không còn sức để mang súng tiểu liên nữa. Mà súng M-79 chỉ hoạt động ở tầm xa trên 70 mét. Ở khoảng cách gần, người mang súng M-79 không có gì để tự vệ ngoài khẩu súng lục vì súng M-79 nạp đạn khá chậm. Vì thế người sử dụng súng M-79 phải đi chung với đồng đội để được bảo vệ.

Để khắc phục khuyết điểm trên, vào đầu thập niên 1970, Mỹ đã nghĩ ra loại súng phóng lựu gắn dưới nòng súng tiểu liên. Súng phóng lựu cá nhân gắn dưới nòng súng tiểu liên đã gia tăng hỏa lực cho bộ binh một cách đáng kể vì người xử dụng súng phóng lựu cũng có thể sử dụng cả tiểu liên. Nhưng súng phóng lựu gắn dưới nòng súng này chỉ bắn xa được 100 mét trong khi súng M-79 có thể bắn xa đến 300 mét.  Vì thế loại súng M-79 vẫn được tiếp tục sử dụng cho các trường hợp cần đến.

Bên trong một viên đạn M-79

Súng chống tăng Bazooka M1




Chiều dài: 1370 mm
Trọng lượng: 5.8 kg
Đường kính hỏa tiễn: 60 mm

Súng Bazooka là tên để gọi chung tất cả các loại súng không giật  để chống xe tăng. Nguồn gốc của tên này là vào thập niên 1930 người Mỹ thấy loại súng này có hình dáng giống như một nhạc cụ tên là Bazooka nên gọi đùa súng này là Bazooka. Về sau Bazooka trở thành tên gọi không chính thức của loại vũ khí phóng đầu đạn mang chất nổ có định hướng dùng để chống xe tăng.

Nguyên tắc của súng Bazooka khác với các loại súng khác ở hai điểm:

1. Đó là súng không giật . Viên đạn được đặt trong nòng súng để hở ở phía sau nên khi bắn đi, sức nổ của đạn sẽ thoát ra ngoài bằng phía sau, nhờ vậy súng không bị giật . Các loại súng khác, khi viên đạn nổ thì phía sau bịt kín, đầu đạn chỉ có một hướng duy nhất là đi ra khỏi nòng súng bằng phía trước . Sức nổ đẩy viên đạn đi đồng thời tạo ra một phản lực đẩy về phía sau làm cho súng bị giật . Viên đạn chống xe tăng tuy tạo ra luồng khí phụt ra phía sau nhưng không phải là hỏa tiễn vì đạn chỉ nổ một lần trong nòng súng . Sức nổ đẩy hơi nóng ra phía sau đồng thời tạo ra một phản lực đẩy viên đạn đi ra phía trước, giống như động cơ phản lực đẩy hơi nóng ra phía sau, và phản lực sinh ra khi phụt hơi sẽ đẩy phi cơ về phía trước . Sở dĩ chọn cách để cho đạn nổ trong ống phóng mà không biến viên đạn thành hỏa tiễn để phóng đi là vì nếu dùng hỏa tiễn thì khi hỏa tiễn bay ra khỏi nòng nó vẫn tiếp tục phun hơi nóng ra phía sau và hơi nóng này sẽ đốt cháy mặt người bắn.

2. Đầu đạn để chống xe tăng là loại đầu đạn với khối chất nổ mà mặt đối diện với xe tăng được ngăn bằng một hình nón bằng kim loại. Hình nón này được đặt với chóp nón quay về phía sau còn phần mở của nón hướng về phía xe tăng. Khi chất nổ nổ, thay vì sức nổ tỏa ra khắp nơi xung quanh thì sức nổ được hình nón làm hướng vào một điểm duy nhất ở phía trước. Khi toàn bộ sức nổ được hướng vào một điểm duy nhất thì sẽ sinh ra một tia plasma nóng đến hàng ngàn độ làm chảy cả thép. Cho đến ngày nay, các đầu đạn chống xe tăng cũng vẫn dùng nguyên tắc này. Vì thế chúng ta thấy các đầu đạn chống xe tăng thường có hình thoi, giống như hai cái phễu úp vào nhau. Phần cái phễu gắn vào đuôi đạn thì mang chất nổ và nón kim loại để tụ sức nóng. Còn phần hình phễu phía trước thì chỉ có tác dụng làm cho viên đạn có đầu nhọn, ít bị cản không khí khi bay.

Cấu tạo của một đầu đạn chống xe tăng:



1. Vỏ bọc phía trước để làm cho đầu đạn nhọn, ít bị cản không khí khi bay (xanh da trời)
2. Khoảng trống . Khi đạn nổ thì sức nóng sẽ dồn vào khoảng trống này.
3. Hình nón bằng đồng để tạo cho khối chất nổ có hình nón (cam).
4. Ngòi nổ (đỏ)
5. Chất nổ

Loại Bazooka dùng tại Việt Nam là loại M1 của quân đội Mỹ và chỉ được dùng vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Vì quân đội Cộng Sản lúc đó chưa sử dụng xe tăng nên súng Bazooka rất ít được sử dụng. Ngoại trừ những trường hợp dùng để phá công sự. Súng cần phải hai người mới sử dụng được. Một người vác súng, một người nạp đạn vào ống từ phía sau. Vì đầu đạn hình thoi cũng được đút vào nòng súng nên nòng súng phải làm lớn trở nên nặng nề. Các súng chống xe tăng sau này cũng áp dụng nguyên tắc của súng Bazooka nhưng khi nạp đạn chỉ đút phần thuốc đạn phía sau còn đầu đạn hình thoi để phía ngoài nên có thể làm đầu đạn lớn hơn, có sức công phá mạnh hơn, mà ống phóng không phải làm lớn quá.



Đoạn video dưới đây chiếu về khẩu súng Bazooka:



Các loại súng DKZ (Đại Bác Không Zật) cũng dùng nguyên tắc để sức nổ thoát ra phía sau để súng không giật giống như nguyên tắc của súng Bazooka.


 Súng DKZ

 Súng DKZ, nạp đạn từ phía sau. Khi bắn, hơi phụt ra phía sau
Súng chống tăng M72



Chiều dài: dưới 1000 mm
Trọng lượng: 2.5 kg
Đường kính hỏa tiễn: 66 mm
Tầm bắn hiệu quả: 200 m

Súng M-72 là súng chống tăng loại nhẹ được chế tạo gọn nhẹ để bộ binh mang theo cùng với súng cá nhân và đạn dược. Súng M-72 chỉ bắn một lần rồi bỏ đi. Súng gồm một hỏa tiễn chống tăng đựng bên trong ống bằng nhôm bịt kín không để cho nước vào. Ống băng nhôm gồm hai ống lồng vào nhau . Ống bên ngoài có gắn cò súng nhưng không có tay cầm. Ống bên trong chứa kim hỏa để khai hỏa hỏa tiễn. Khi bắn, xạ thủ sẽ kéo ống bên trong ra phía sau, dở nắp đậy phía trước lên. Nắp đậy phía trước bây giờ biến thành bộ phận ngắm. Khi xạ thủ bấm nút nằm ở trên ống để bắn, hỏa tiễn nằm trong ống khai hỏa, đốt cháy toàn bộ thuốc súng bên trong với nhiệt độ lên đến 760 độ C rồi thoát ra khỏi ống phóng. Trên đường bay, sáu cánh bằng kim loại nhỏ sẽ bật ra để giữ cho hỏa tiền luôn luôn bay thẳng. Sau khi bắn thì ống kim loại không còn dùng nữa, xạ thủ sẽ vứt ống đi.
Súng chỉ bắn một phát rồi vứt đi xem ra là một sự hoang phí. Nếu so với súng B-40, chỉ có một khẩu súng mà dùng mãi, bắn hết viên đạn này đến viên đạn kia thì quả là tiết kiệm được nhiều hơn. Nhưng súng M-72 cũng có cái lợi điểm của nó. Nhờ nhẹ nên mỗi người lính, ngoài khẩu súng cá nhân của mình, đều có thể đeo thêm một khẩu M-72. Một tiểu đội 12 người thì có thể có đến 12 khẩu súng chống tăng. Khi lâm trận, mỗi người sẽ tản mát, núp một nơi, người nào thấy cơ hội thuận tiện thì bắn xe tăng địch. Như thế sẽ gây khó khăn cho địch hơn.

Hỏa tiễn của súng M-72 có khả năng xuyên thủng thép dày 20 cm, hay bê tông dày 60 cm, hay tường đất dày 1.8 m.


Hỏa tiễn của súng M-72

Bắn hỏa tiễn bằng cách bóp vào bộ phận khai hỏa nằm bên trên ống phóng

Minh Đức

 

"Saigonaises" Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn

Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ chí Minh. 1 Vì sao? Tro...