Showing posts with label 30 tháng 4. Show all posts
Showing posts with label 30 tháng 4. Show all posts

Wednesday, July 17, 2019

Bài Thơ Thương Tiếc

Bài Thơ Thương Tiếc

 


Bài Thơ Thương Tiếc

Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,
Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,
Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,
Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.
Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,
Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,
Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,
Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.
Anh nằm đó sau một lần thất thủ,
Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,
Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,
Những vui buồn ấp ủ đời anh.
Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,
Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh...


Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa. Không biết tên tác giả của bài thơ và cũng không biết tên người chiến sĩ đã hy sinh. Bài thơ này được ghi lại trên trang văn nghệ xuân ở một ngôi trường Việt Nam. Xin ghi lại bài thơ để người chiến sĩ vô danh không bị tanvào hư không, và tác giả bài thơ không bị đi vào hư vô.


 

2

 



Bài Thơ Thương Tiếc

Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,
Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,
Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,
Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.
Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,
Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,
Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,
Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.
Anh nằm đó sau một lần thất thủ,
Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,
Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,
Những vui buồn ấp ủ đời anh.
Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,
Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh...


Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa.


 

3

 



Bài Thơ Thương Tiếc

Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,
Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,
Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,
Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.
Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,
Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,
Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,
Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.
Anh nằm đó sau một lần thất thủ,
Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,
Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,
Những vui buồn ấp ủ đời anh.
Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,
Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh...

Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa.

 

 

4

 


Bài Thơ Thương Tiếc

Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,
Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,
Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,
Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.
Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,
Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,
Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,
Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.
Anh nằm đó sau một lần thất thủ,
Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,
Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,
Những vui buồn ấp ủ đời anh.
Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,
Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh...

 

5

 






Bài Thơ Thương Tiếc


Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,
Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,
Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,
Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.

Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,
Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,
Tiếc vô cùng một tài hoa tuồi trẻ,
Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.

Anh nằm đó sau một lần thất thủ,
Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,
Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ...
Những vui buồn ấp ủ đời anh.

Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,
Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh.

Vô Danh


Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum.
bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa.




 

 

Một bài thơ khác không có tên tác giả, không biết năm. Theo câu "Mắt đeo mặt nạ rợ hồ" thì đây không phải là bài thơ của bên cộng sản.

 

 






Thương Người Về Đỉnh
Thiên Thu


Thương anh con suối ngủ bờ,
Người đi mấy nẻo bơ vơ lạc rừng.
Về mang gió ấm mùa xuân,
Đỉnh cao anh bỏ nửa chừng đôi mươi.
Thiên nhiên phó mặt khóc cười,
Thu se áo rách tả tơi nổi sầu.
Hồn rơi rớt những vũng sâu,
Thơ chan nước mắt đượm màu tan thương.
Mặc cho thân phận chán chường,
Tưởng thầm số cũng ngủ yên dưới mồ,
Giả từ cuộc chiến bây giờ,
Từ đây anh có nằm mơ thanh bình.
Ngàn sau tổ quốc hiển linh,
Năm dài tiếng cú cực hình bủa vây.
Quê hương con mủ lở đầy,
Hương bay thưa thớt hồn xây xác người.
Anh theo gió nội ngàn khơi,
Ngủ mòn vách núi rã rời tay chân,
Âm khua heo hút xa gần,
Thầm quên nhớ lại kiếp thân đọa đày.
Ngày xưa xót lại còn ai,
Đi hoài tìm chút hình hài rửa tan.
Chinh mang đựng nổi cơ hàn,
Chiến trường da ngựa sói lang thú hùm,
Hờn con chó ghẻ ung dung.
Căm lời sủa xác nuốt chừng xương khô,
Mắt đeo mặt nạ rợ hồ,
Thù đôi mắt đỏ miệng to thịt người.

Thương Người Về Đỉnh Thiên Thu,
Hồn thơ mặc tưởng giả từ ngàn năm.
Quê hương anh ngủ âm thầm,
Ngày đi chinh chiến hờn căm mắt thù.




 

2

 






    Những Người Chết Sau Cùng Trong Cuộc Chiến



    Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.

    Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.
    Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.
    Viết cho những người lính vô danh,
    Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.
    Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.
    Các anh, những người lính nhỏ,
    Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại!


    Suốt 40 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975. Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.

    Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng hòa bình.


    ----------------------------------------

    Những Người Chết Sau Cùng Trong Cuộc Chiến

    Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975!

    Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi…

    Thời khắc ấy cách đây đúng 40 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh:

    – Anh em đào ở đây đi.

    – Tuân lệnh thiếu úy!

    Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân. Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ.

    Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét.

    Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất.

    Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi:

    – Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em.

    Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phọng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả.

    Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng.

    Nắng lên khá cao…

    Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội:

    – Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao.

    Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc:

    – Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi!

    Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu:

    – Ð.m. sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng?

    Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn. Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng:

    – Thôi đi.

    Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường. Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao.

    Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo:

    – Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba.

    Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngỏ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Saigon.

    Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng!

    Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy. Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. Dường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt.

    Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức. Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh:

    – Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn.

    – Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm.

    Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo:

    – Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con!

    Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi.

    Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nữa đường gãy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn.

    Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này.

    Charleston, South Carolina

    Triều Phong

    Posted on March 13, 2016
    https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2016/03/13/trieu-phong-nhung-nguoi-chet-sau-cung-trong-cuoc-chien/#more-2700

 

 

 

 




 

Những Cái Chết Thầm Lặng


Mũ Xanh Huỳnh Thừa Dũng

Một buổi trưa cuối tuần, quanh quẩn trong khu Eden, khu chợ khang trang của người Việt vùng Northern Virginia, vào giờ cao điểm tìm một chỗ đậu xe không phải là dễ dàng, cứ chạy vòng quanh từ những con đường mang tên các tướng lãnh Việt Nam, những người đã tuẫn tiết, đã tự kết liễu đời mình sau khi lệnh đầu hàng được phát ra từ người lãnh đạo tối cao của Việt Nam Cộng Hòa. Nào Thiếu tướng Nguyển Khoa Nam, nào Thiếu tướng Trần Văn Hai, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, nào Đại tá Hồ ngọc Cẩn… Tôi không bỏ qua cơ hội nói một chút tiểu sử của các tướng lãnh anh hùng nầy cho các con tôi, những đứa trẻ sinh trưởng tại đất nước nầy chỉ biết lõm bõm về lịch sử Việt Nam, và hầu như không có chút hiểu biết gì về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

- Tại sao phải tự tử? Sao cha không tự tử? Cha cũng là lính mà.

Tôi như ngẩn ngơ, tê dại, trí óc tôi như bị đông cứng sau câu hỏi ấy… và tôi không có câu trả lời cho đứa con trai nhỏ của tôi.

Trong mơ màng suy tưởng, trở về lại với những hình ảnh không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3 năm ấy (1975) tại cửa biển Thuận An.

......................................................


Theo chân đơn vị tôi, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến di tản từ Phong Điền, tôi trong nhóm người của Bộ Chỉ Huy nhẹ tạm trú trong chi khu Hương Trà một ngày trước đó và hôm sau chúng tôi nhập theo dòng người di tản xuôi nam về Đà Nẵng theo như kế hoạch, gặp lại Bộ Chỉ Huy tại Đập Đá, một chút an tâm, không còn lo lắng nữa. Tâm trạng của một anh lính mới tò te như gặp lại người thân sau thời gian thất lạc.

Lần mò cùng nhau trong một đêm trời tối như mực, lẳng lặng cùng đoàn người bước nhanh chỉ nghe những tiếng động lụp cụp va chạm của khẩu súng và dây ba chạc cùng tiếng sè sè thỉnh thoảng phát ra từ chiếc máy truyền tin. Vững tâm đi bên cạnh Đại Bàng 416 vị Lữ Đoàn Phó của tôi.

- Dừng lại! 416 khẽ ra lệnh.

Có tiếng máy nổ của xe tăng mổi lúc mổi rõ hơn, cảm giác sợ hãi chạy dài theo xương sống tôi, xe tăng của địch chận đường chăng?

416 một mình tiến về phía trước, vài phút sau ông trở lại và ngắn gọn nói:

- Tiếp tục đi.

Thì ra đó là đơn vị bạn.

Rạng sáng hôm sau tất cả chúng tôi đã đến được bờ nam Cửa Thuận An sau khi vượt phá, chiếc Duyên Vận Hạm 801 đang chờ đợi chúng tôi nhưng vì tàu đậu quá xa bãi trong khi những ngọn sóng khá lớn khiến chúng tôi không lên tàu được theo kế hoạch. Đại bàng Lâm Thao Đại Tá Nguyễn Thế Lương Lữ Đoàn Trưởng đang liên lạc tìm cách khác, sẽ có các LCU vào để rước chúng tôi.Theo kế hoạch Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn sẽ lên chuyến tàu thứ tư, bình tĩnh và an tâm khi biết rõ ràng rằng khuya nay sẽ có tàu đón chúng tôi. Ngồi xuống trên một triền đồi đầy những cội dương già nhìn ra biển xanh mênh mông với những làn gió mát tôi đang thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên…

Hỗn loạn xảy ra, bắt đầu bằng sự xuất hiện của chiếc M113 chạy như điên cuồng vào tuyến của Lữ Đoàn, địch quân đã rượt theo chúng tôi và đã qua phà đang hướng về chúng tôi. Lệnh ban ra cho các tiểu đoàn bung xa ra làm tuyến bảo vệ cho Lữ Đoàn và sau đó tiếng súng nổ dòn, tiếng nổ của những viên đạn súng cối địch như rải đều trên đám đông chúng tôi.

Lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến và kinh nghiệm những viên đạn như xé gió, như ghim vào da thịt chúng tôi, lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy những thân xác của con người bị hất tung lên cao và rơi xuống bất động bởi những trái đạn súng cối 81 ly, lần đầu tiên trong đời, tôi kinh nghiệm sự tàn phá của những quả đạn nổ tung mang theo thịt, da trộn lẫn với máu tươi còn nóng hổi tung tóe vào mặt mũi của chúng tôi, như là lần đầu tiên trong đời chứng kiến sự tàn phá và hủy diệt của chiến tranh trước sự sống của con người.

Đêm xuống, những tiếng súng cùng các tiếng đạn súng cối cũng thưa dần, không biết có phải trong các chiến trận khác khi đêm xuống khi mà không còn ai nhìn thấy ai, khi mà không còn phân biệt bạn hay thù thì không còn tiếng súng không? Hay tạm nghỉ ngơi để ngày mai đánh tiếp?

Muốn nhắm mắt ngủ một giấc sau những giờ căng thẳng nhưng không tài nào làm được, cứ lo sợ vẩn vơ.

Tàu tới!

Âm thanh động cơ của những con tàu tiếp rước chúng tôi nghe như dễ thương chi lạ, hình ảnh những khối sắt lù lù xuất hiện sau những lớp sương mù trong đêm khuya trên biển như đẹp đẽ làm sao!

Đại đội Quân Y lăng xăng, cùng các đơn vị khác như truyền tin, pháo binh lần lượt mang theo những người bị thương lên tàu và ra khơi.

Con tàu thứ hai xuất hiện, Đại bàng Lâm Thao Đại tá Nguyễn Thế Lương, 416 Trung tá Nguyễn Đăng Tống, Thiếu Tá Nguyễn Văn Minh trưởng Ban 3, Trung Úy Châu trưởng ban 2 cùng Đại Tá Thiệt Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân, người chỉ huy một Liên Đoàn Biệt Động Quân mà bây giờ chỉ có mỗi mình ông nhờ vào sự che chở của chúng tôi, cùng nhau sánh bước hướng về con tàu đẹp đẻ nầy. Tôi nhớm mình như muốn theo chân Đại Bàng 416 nhưng khi nhìn qua Đại Úy Lương Văn Cường, Trưởng ban 5 vị Chỉ huy trực tiếp của tôi thấy ông không có chút phản ứng làm tôi mất hứng, thôi chờ chuyến kế tiếp và không bao giờ tôi nhìn thấy con tàu thứ tư như theo kế hoạch.

Con tàu thứ ba xuất hiện lệch một chút về hướng Bắc, ra ngoài khỏi phạm vi phòng tuyến của Lữ Đoàn. Đây là con tàu định mệnh cho biết bao nhiêu con người chúng tôi. Vào đến bờ, vì ngoài tuyến của Lữ Đoàn các đơn vị khác nào Bộ Binh, nào Biệt Động Quân cùng Thủy Quân Lục Chiến tranh nhau lên tàu, con tàu như không còn chứa đựng thêm nổi nữa vì đầy ắp những con người như không còn chỗ trống nào, chưa kể không biết bao nhiêu người đang bám víu vào chung quanh thành tàu.

Có thể vì sức nặng của biết bao nhiêu con người đã làm con tàu bị kẹt, phía sau tàu như bê sang trái, rồi bê sang phải tạo dịp cho sức hút của chân vịt tàu hút vào những thân thể đang lội xung quanh phía sau tàu và tôi như thấy màu đỏ của máu đang loang dần…

Một tiếng nổ kinh hồn ngay giữa tàu nơi mà dầy đặc những con người, dầy đặc những thân thể bằng thịt, bằng xương, không biết rằng có bao nhiêu người bị chết hay bị thương sau tiếng nổ ấy, rồi những thân thể còn có thể di chuyển được lại tranh nhau rời khỏi tàu.

Hỗn loạn tiếp diễn với những quả súng cối, B40 và những tràng AK bắn vung vãi vào chúng tôi tại bờ biển chỉ hơn 3 km tập trung hàng ngàn người chúng tôi chạy ngược về hướng bắc khi hướng đạn đang hướng về phía nam nhiều hơn, rồi lại chạy trở lại hướng nam để tránh bớt hỏa lực tập trung của địch. Chung quanh tôi không còn ai quen chỉ thấy toàn những gương mặt lạ mà bảng tên với những màu sắc khác nhau, tôi biết đó là các đơn vị đang thất lạc trong hoàn cảnh hỗn độn nầy. Miệng khát, thân mỏi, cảm giác rã rời, trong hoang mang cùng tột tôi cứ theo đoàn người khi ngược bắc khi xuôi nam, khi chạy nhanh, khi lê lết với những bước chân vô định, khi len lỏi sâu vào trong đám đông với hy vọng sẽ có những thân người che chở cho mình từ phía ngoài, khi thẫn thờ lê những bước chân mệt nhọc, thôi mọi chuyện phú cho Trời…

Trong vòng thời gian của ngược xuôi, xuôi ngược ấy có rất nhiều hình ảnh đậm nét khó quên, nhiều hình ảnh thật bi thương, não nề của những người lính chiến, họ đang góp nhặt những viên đạn, những băng đạn, những trái lựu đạn vương vãi đâu đây, họ đang quải trên vai vài dây ba chạc và mổi người với một nón sắt trên tay chứa đựng những viên đạn, băng đạn mà họ có thể tìm để mang về đơn vị mình để tiếp tục chiến đấu bảo vệ cho chúng tôi, những người đằng sau chiến tuyến.

- Anh Đống… Tôi mừng rỡ kêu lên khi thấy Trung Sĩ Nhất Đống của ban 4 đang một mình với cây đại liên 50 mà đã được tháo gỡ từ chiếc M113. Trên bờ cát một mình anh đang bắn cầm chừng như bảo vệ cho đoàn người đang chạy tới chạy lui như tôi.

- Ở đây với tao mậy, chạy chi cho mệt.

Nhìn nét mặt không một chút lo âu của anh tôi cảm thấy an tâm hơn nhiều.

- Được, tôi trả lời vỏn vẹn.

- Mầy ở đây nghe, bắn về đằng cái miểu đó, vừa nói vừa chỉ về những bóng dáng khi ẩn khi hiện chung quanh cái miếu xa xa, tao đi kiếm cái nón sắt, lạnh ót quá mậy…

Bắn cầm chừng về phía những bóng người xung quanh miểu khi mà dây đạn cuối cùng cũng không còn bao nhiêu, vừa chờ đợi anh Đống trở lại, một hồi lâu không thấy, nhớ lại tôi cũng không có cái nón sắt trên đầu, cảm thấy phía sau ót lạnh dần, cảm giác lành lạnh nầy lan dần đến chân, mới hiểu được “lạnh ót” và “lạnh cẳng” là như thế nào.

Đêm dần xuống, lại nhập vào dòng người về chạy về hướng Nam, khi chạy, khi dừng, khi đi, khi ngồi nghỉ cho đến khi đoàn người bị khựng lại vì địch quân đã tràn ra và chận bắt chúng tôi. Cảm giác thật lạ lùng, như có được một kết thúc cho tâm trạng hoang mang mấy ngày nay, cho dù thế nào đi nửa đó có phải là một kết thúc?

Nhớ lại đoạn cuối của cuốn sách Tháng Ba Gãy Súng, Cao Xuân Huy viết:

    “... Lại có rất nhiều người tự tử Bây giờ họ không tự tử từng người mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư người thứ năm nhập bọn, họ ngồi với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.

    Tôi không thể đếm nổi là đã có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ ở giữa vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.”

    Đây không phải là hình ảnh của hư cấu mà là những hình ảnh thật, rất thật, đây không phải là những hình ảnh của tưởng tượng để thêm phần bi thảm cho câu chuyện của Anh mà là hình ảnh bi thương và hào hùng của những anh hùng vô danh mũ xanh còn được gọi là lính trừ bị Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

    - Tự tử hôn mậy?

    Lời đề nghị nghe kỳ cục làm sao! lạ lùng làm sao!

    Tôi như ngẩn ngơ, ngơ ngẩn, thẫn thờ, thờ thẫn, không biết phải diễn tả một cách thật chính xác cho tâm trạng của mình ngay thời điểm đặc biệt nầy.

    “Thủy Quân Lục Chiến thà chết không hàng.”

Sau câu nói đồng loạt nầy, lựu đạn nổ… màn khói tan nhanh để thấy rõ những xác người trong tư thế cúi gập người lại với nhau, những mái đầu xanh như chụm lại với nhau, cũng có xác bị xô lệch khỏi trật tự nầy, toàn những khuôn mặt như thật trẻ trung chỉ trong khoảng vừa trên 20, lứa tuổi của tôi....”

Tôi như ngây dại, thẫn thờ trước hình ảnh bi thương đầy hùng tráng nầy, tôi như không có một chút gì của lý lẽ, hay một chút nguyên nhân nào để giải thích cho câu hỏi trong đầu tôi lúc ấy. Tại sao như vậy?

Cho đến bây giờ cũng thế, tôi cũng không biết phải giải thích như thế nào cho mọi người hiểu được tại sao, vì tôi nghĩ rằng chỉ có những người đã từng một lần mặc lấy bộ đồ sọc rằn với phù hiêu TQLC trên vai mới hiểu được là tại sao! Vì đó là truyền thống Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

Lịch sử có ghi lại những cái chết như thế nầy không?

Chúng ta có biết nhiều về những câu chuyện như thế đó không?

Họ là ai?

Tôi là người trong tình cờ cạnh bên họ trong chính giây phút đó mà vẫn không biết họ là ai?

Chỉ biết rằng - họ là những anh hùng mũ xanh cùng cái chết thầm lặng.

Những ai đã chết vì Sông Núi,
Sẽ sống muôn đời với Núi Sông.


Mũ Xanh Huỳnh Thừa Dũng
BCH LĐ 147

http://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%BA%B7nghttp://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%http://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%BA%B7ngBA%B7ng





 

 






    VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ

    Những người lính VNCH đó họ đã anh dũng vừa chống trả từng đợt xung phong dữ dội nầy đến đợt xung phong dữ dội khác của Bắc Việt, vừa chịu đủ các loạt pháo kích đủ cỡ đủ loại, kể cả rốc kết tầm xa, tầm gần, vừa chịu đựng các đợt tấn công tới tấp của hằng loạt chiến xa T.54....
    Họ đã hạ tại chỗ 9 chiến xa kiểu T.54 của Nga Sô và một số lớn quân Bắc Việt...

    Một tuần sau đó người ta phải dùng xe ủi đất để gom hơn trăm xác chết lại thành từng đống một, người ta chế xăng lên, và cho lửa đốt các xác nầy. Ngọn lửa bùng lên cao ngút, như nói lên cho kẻ chiến thắng biết là những người lính chiến Miền Nam Việt Nam chỉ biết chọn cái chết trong vinh quang và trong danh dự hơn là phải chịu thất trận và đầu hàng địch quân cộng sản, và cái chết hôm nay cũng chưa phải là đã hết...

    Đường phố chung quanh sân bay Tân Sơn Nhứt vắng lặng và rải rác những xác chết, chỉ có tiếng rốc kết réo vang và tiếng nổ máy của chiến xa... Ở một vài ngả tư đường, đây đó vẫn còn nhiều binh sĩ và đặc biệt là các cán binh chiêu hồi đang kháng cự hết sức anh dũng, ở vùng Chợ Lớn.

    Tại một ngả tư nọ, có sáu chiến sĩ VNCH cùng tựa lưng vào tường đang chận đứng một toán Việt Cộng, làm họ không tiến lên được phải gọi chiến xa tới tăng viện. Chiến xa Bắc Việt đến, sáu chiến sĩ VNCH bèn gom lại thành một tụ ngay giữa ngả tư, một trong sáu người người chiến binh VNCH đó, có lẽ là người chỉ huy mở chốt lựu đạn, một loại lựu đạn tròn của Mỹ, và cho nổ ngay chính giữa nhóm sáu người, họ chết tươi... sau đó cuối cùng các chiến xa của Việt cộng kia cũng không khoan nhượng, tử tế gì, tiến lên cán nát hết những thây ma VNCH ‘phản động’ đó!



    CHƯƠNG HAI/VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ/LA MORT DU VIETNAM







 

Tượng đài Chiến Sĩ Vô Danh
https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/10791384644/

 

 


    <p align="center">&nbsp; </p> <div style="background:url (); background-size:100% 100%; width:800px; height:; text-align:center; font-size:32pt;color:#CC99FF; text-shadow:3px 2px 1px #CC99FF;"> <div style="width:820px; background:-webkit-linear-gradient(left,#CC99FF,#CC99FF);"); border:0px dashed brown;padding:0px;"> <div style="padding:10px; width:px; margin:0px 0px; background-color:white; border:0px dotted wheat;opacity:0.7;"><p></p><br> <b><i><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="7"><p style="text-align: justify;line-height: 35pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: center;"><b>Bài Thơ Thương Tiếc </b></p></font></font><p></p><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="6"><p style="text-align: justify;line-height: 38pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: justify;">Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,<br>Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,<br>Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,<br>Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.<br> Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,<br>Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,<br>Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,<br>Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.<br> Anh nằm đó sau một lần thất thủ,<br>Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,<br>Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,<br>Những vui buồn ấp ủ đời anh.<br> Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,<br>Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh... <p></p> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="640"><br><font color="navy" face="Arial" size="4"><b><i>Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa. </i></b></font><br><br><br></font></font></i></b> </div></div></div> <p align="center">&nbsp;</p> 2 <p align="center">&nbsp; </p><div style="background:urlhttps://i682.photobucket.com/albums/vv190/doublenguyennguyen/Tht%20Sn%20trugraveng%20ip._zpsyvmcjgmt.jpg(); background-size:100% 100%; width:800px; height:; text-align:center; font-size:32pt;color:#CC99FF; text-shadow:3px 2px 1px #CC99FF;"> <div style="width:820px; background:-webkit-linear-gradient(left,#CC99FF,#CC99FF);"); border:0px dashed brown;padding:0px;"> <div style="padding:10px; width:px; margin:30px 30px; background-color:white; border:0px dotted wheat;opacity:0.7;"><p></p> <br><br> <font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="7"> <p style="text-align: justify;line-height: 35pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: center;"><b><i>Bài Thơ Thương Tiếc </p></font></font><p></p><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="6"><p style="text-align: justify;line-height: 38pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: justify;">Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,<br>Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,<br>Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,<br>Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.<br> Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,<br>Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,<br>Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,<br>Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.<br> Anh nằm đó sau một lần thất thủ,<br>Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,<br>Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,<br>Những vui buồn ấp ủ đời anh.<br> Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,<br>Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh... <p></p><p></p><img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="640"><br> <font color="navy" face="Arial" size="4"><b><i>Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa. </i></b></font><br><br><br> </font></font></i></b></div></div></div> <p align="center">&nbsp;</p> 3 <p align="center">&nbsp; </p> <div style="background:url(); background-size:100% 100%; width:800px; height:; text-align:center; font-size:32pt;color:#CC99FF; text-shadow:3px 2px 1px #CC99FF;"> <div style="width:820px; background:url(&#39;https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2013/04/tucc9bocc9bcca3ng-tt-trong-hoacc80ng-hocc82n.png"); border:0px dashed brown;padding:20px;"> <div style="padding:10px; width:px; margin:30px 30px; background-color:white; border:0px dotted wheat;opacity:0.7;"> <p></p> <br><br> <b><i><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="7"> <p style="text-align: justify;line-height: 35pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: center;"> <b>Bài Thơ Thương Tiếc </b> </p></font></font><p></p><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="6"><p style="text-align: justify;line-height: 38pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: justify;">Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,<br>Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,<br>Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,<br>Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.<br> Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,<br>Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,<br>Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,<br>Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.<br> Anh nằm đó sau một lần thất thủ,<br>Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,<br>Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,<br>Những vui buồn ấp ủ đời anh.<br> Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,<br>Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh... <br><br> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="640"><p></p> <font color="navy" face="Arial" size="4"><b><i>Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. Bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa. </i></b> <br></font></font> </font></i></b> </div> </div></div> <p align="center">&nbsp;</p> <p align="center">&nbsp;</p> 4 <p align="center">&nbsp;</p> <TABLE STYLE="WIDTH: 752PX; BORDER: 3PX SOLID darkviolet; BOX-SHADOW: 20PX 20PX midnightblue; MARGIN-CENTER: 150PX;" CELLPADDING="0" CELLSPACING="0"><TR><TD STYLE="PADDING: 0PX;"> <div style="PADDING: 10PX; BACKGROUND: URL(&#39;https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2013/04/tucc9bocc9bcca3ng-tt-trong-hoacc80ng-hocc82n.png&#39;) REPEAT;"> <DIV STYLE="TEXT-ALIGN: CENTER; TEXT-SHADOW: RGB(102, 102, 102) 1PX 1PX 1PX; COLOR: BROWN; FONT-FAMILY: 'TIME NEW ROMAN'; FONT-SIZE: 18PT;"> <div style="padding:10px; width:730px; margin:30px 30px; background-color:white; border:0px dotted wheat;opacity:0.6;"> <br> <b><i><font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="7"><p style="text-align: justify;line-height: 35pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: center;"><b>Bài Thơ Thương Tiếc </b> </font></font><br> <font style="font-family: Cambria;"><font color="navy" size="6"><p style="text-align: justify;line-height: 38pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: justify;">Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh,<br>Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng,<br>Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng,<br>Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan.<br> Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở,<br>Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi,<br>Tiếc vô cùng một tài hoa tuổi trẻ,<br>Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi.<br>Anh nằm đó sau một lần thất thủ,<br>Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn,<br>Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ,<br>Những vui buồn ấp ủ đời anh.<br> Trời Kontum cũng một lần chiến thắng,<br>Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh... <br> <p></p></b></i><p></p></font></font> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="640"><p></p><br><br> </div><p></p></div></div> </TD></TR></TBODY></TABLE> <p align="center">&nbsp;</p> 5 <p align="center">&nbsp;</p> <table style="width: 740px; border: 3px solid thistle; box-shadow: 20px 20px 0px midnightblue; margin-center: 150px;" cellpadding="0" cellspacing="0"><tr><td style="padding: 3px;"> <div style="padding: 10px; background:-webkit-linear-gradient(left,midnightblue 32%, darkmagenta);width="690";> <div style="text-align: center; text-shadow: rgb(102, 102, 102) 1px 1px 1px; color: brown; font-family: 'Time New Roman'; font-size: 18pt; width="690";> <br><br><br> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/sMukblTJJu-GtEnSwu1a9LLLifTisNZiYSZsc4QTvS5sOJbbsCLrqAEPtg66BCf1-ZAPLDh-9DOQxtVw0OEG60yNdVQRZPc3ojPJHNs=w1280-h1024-rw-no" width="400"> <br><br> <div style="text-align: justify; text-shadow: salmon 2px 2px 2px; color:darkmagenta; font-family: 'cambria'; font-size: 37pt; width="650";> <div style="text-shadow: thistle 2px 2px 2px; font-size: 37pt;"> <p style="margin: 10pt 14pt 0pt 30pt;" class="MsoNormal"> <b><i>Bài Thơ Thương Tiếc</i></b></p> </div></div> <br> <div style="text-align: justify; text-shadow: salmon 2px 2px 2px; color: darkmagenta ; font-family: 'cambria'; font-size: 28pt; width="650";> <div style="text-shadow:thistle 2px 2px 2px; font-size: 28pt;"> <p style="margin: 10pt 14pt 0pt 30pt;" class="MsoNormal"><i>Anh nằm đó suốt một đời hoang lạnh, <br> Non nước buồn hương khói chẳng ai dâng, <br> Anh ra đi giữa mùa hè rực nắng, <br> Hai năm rồi thân xác đã tiêu tan. <br><br> Thương cho anh bao nhiêu người nhắc nhở, <br> Nghĩ đến anh ai cũng thấy ngậm ngùi, <br> Tiếc vô cùng một tài hoa tuồi trẻ, <br> Tình đang nồng anh vội vã buông xuôi. <br><br> Anh nằm đó sau một lần thất thủ, <br> Căn cứ N. ơi! Xương máu ngập tràn, <br> Còn đâu nữa những ngày theo quân ngũ... <br> Những vui buồn ấp ủ đời anh. <br><br> Trời Kontum cũng một lần chiến thắng, <br> Hai năm rồi thôi yên nghỉ đi anh. <br> <br> Vô Danh</i><br><br><font size="5">Bài thơ thương tiếc về một anh lính VNCH hy sinh tại KonTum. <br> bài thơ có thể được viết vào năm 1974 sau hai năm (1972) mùa hè đỏ lửa. </font><br> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="640"><br><br> </p><br> </div></div></div></div></td></tr></tbody></table> <p align="center">&nbsp;</p> <p align="center">&nbsp; </p>Một bài thơ khác không có tên tác giả, không biết năm. Theo câu "Mắt đeo mặt nạ rợ hồ" thì đây không phải là bài thơ của bên cộng sản. <p align="center">&nbsp; </p> <p align="center">&nbsp; </p> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" align="center" height="651" width="115%"> <tbody> <tr valign="top"> <td style="PADDING-LEFT:124px;background:-webkit-linear-gradient(left, white 1%, #CC99FF 43%);" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"> <table style="background:-webkit-linear-gradient(left,white,#CC99FF);" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="120%"><tbody><tr><td><br><br><br><br><br><span class="Apple-style-span" style="font-family: verdana;"><font color="navy" size="6"><p style="text-align: justify;line-height: 36pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: center;"><b>Thương Người Về Đỉnh <br>Thiên Thu</b></p></font></span> <span class="Apple-style-span" style="font-family: verdana;"><font color="navy" size="5"><p style="text-align: justify;line-height: 26pt;margin: 12pt 34pt 10pt;text-align: justify;"> <br> <b>Thương</b> anh con suối ngủ bờ,<br><b>Người</b> đi mấy nẻo bơ vơ lạc rừng.<br><b>Về</b> mang gió ấm mùa xuân,<br><b>Đỉnh</b> cao anh bỏ nửa chừng đôi mươi.<br><b>Thiên</b> nhiên phó mặt khóc cười,<br><b>Thu</b> se áo rách tả tơi nổi sầu. <br><b>Hồn</b> rơi rớt những vũng sâu,<br><b>Thơ</b> chan nước mắt đượm màu tan thương.<br><b>Mặc</b> cho thân phận chán chường,<br><b>Tưởng</b> thầm số cũng ngủ yên dưới mồ,<br><b>Giả</b> từ cuộc chiến bây giờ,<br><b>Từ</b> đây anh có nằm mơ thanh bình.<br><b>Ngàn</b> sau tổ quốc hiển linh,<br><b>Năm</b> dài tiếng cú cực hình bủa vây. <br><b>Quê</b> hương con mủ lở đầy,<br><b>Hương</b> bay thưa thớt hồn xây xác người.<br><b>Anh</b> theo gió nội ngàn khơi,<br><b>Ngủ</b> mòn vách núi rã rời tay chân,<br><b>Âm</b> khua heo hút xa gần,<br><b>Thầm</b> quên nhớ lại kiếp thân đọa đày. <br><b>Ngày</b> xưa xót lại còn ai,<br><b>Đi</b> hoài tìm chút hình hài rửa tan.<br><b>Chinh</b> mang đựng nổi cơ hàn,<br><b>Chiến</b> trường da ngựa sói lang thú hùm,<br><b>Hờn</b> con chó ghẻ ung dung.<br><b>Căm</b> lời sủa xác nuốt chừng xương khô,<br><b>Mắt</b> đeo mặt nạ rợ hồ,<br><b>Thù</b> đôi mắt đỏ miệng to thịt người. <br> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="450"><br><font color="navy" face="Arial" size="5"><b><i> Thương Người Về Đỉnh Thiên Thu,<br>Hồn thơ mặc tưởng giả từ ngàn năm.<br>Quê hương anh ngủ âm thầm,<br>Ngày đi chinh chiến hờn căm mắt thù. </i></b></font> <br> <br><br><br></p></font></span></td></tr></tbody></table></td></tr></tbody></table> <p align="center">&nbsp;</p> 2 <p align="center">&nbsp;</p> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" align="center" height="651" width="120%"> <tbody> <tr valign="top"> <td style="PADDING-LEFT:100px;background:-webkit-linear-gradient(left, white, rgb(185, 213, 213) 6%);" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"> <div style="padding-left:0px;padding-right:8px;padding-top: 4px;padding-bottom:2px;width:800" width="800"> <table style="background:-webkit-linear-gradient(left,white, rgb(185, 213, 213) 0.5%, white);" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="120%"><tbody><tr><td> <br><br><br><br><br><ul><font size="7" color="navy"><b>Những Người Chết Sau Cùng Trong Cuộc Chiến</b></font><br><br><br><br> <font size="5" color="navy"><i>Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.</i><br><br> <b><i>Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.<br>Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.<br>Viết cho những người lính vô danh,<br>Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.<br>Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.<br>Các anh, những người lính nhỏ,<br>Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại! </i></b><br><br> <i>Suốt 40 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975. Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi. <br><br>Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng hòa bình.</i> <br><br>---------------------------------------- <br><br> <b>Những Người Chết Sau Cùng Trong Cuộc Chiến</b><br><br> Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975! <br><br> Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi… <br><br>Thời khắc ấy cách đây đúng 40 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh: <br><br>– Anh em đào ở đây đi. <br><br>– Tuân lệnh thiếu úy! <br><br>Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân. Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ. <br><br>Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét. <br><br>Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất. <br><br>Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi: <br><br>– Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em. <br><br>Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phọng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả. <br><br>Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng. <br><br>Nắng lên khá cao… <br><br>Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội: <br><br>– Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao. <br><br>Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc: <br><br>– Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi! <br><br>Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu: <br><br>– Ð.m. sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng? <br><br>Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn. Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng: <br><br>– Thôi đi. <br><br>Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường. Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao. <br><br>Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo: <br><br>– Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba. <br><br>Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngỏ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Saigon. <br><br>Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng! <br><br> Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy. Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. Dường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt. <br><br>Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức. Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh: <br><br>– Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn. <br><br>– Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm. <br><br>Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo: <br><br>– Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con! <br><br>Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi. <br><br>Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nữa đường gãy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn. <br><br>Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này. <br><br>Charleston, South Carolina <br><br>Triều Phong <br><br> Posted on March 13, 2016 </font>https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2016/03/13/trieu-phong-nhung-nguoi-chet-sau-cung-trong-cuoc-chien/#more-2700 <br><br></ul></td></tr></tbody></table></div></td></tr></tbody></table> <p align="center">&nbsp; </p><p align="center">&nbsp; </p> <p align="center">&nbsp; </p> <p align="center">&nbsp;</p> <table style="width: 780px; border: 0px solid #330099; background:-webkit-linear-gradient(left, white, darkgreen 66%);; box-shadow: -20px -30px 0px lightgreen;" cellpadding="0&quot;" cellspacing="0"><tbody><tr><td><br> <table style="background-color: white;padding-left: 36px; ;padding-right:26px;"cellpadding="0" cellspacing="0" width="750"> <tbody><tr><td><br><br> <p align="center">&nbsp;</p> <font size="7" color="darkgreen"> <b>Những Cái Chết Thầm Lặng</b></font> <div style="text-align: justify; line-height:34px; font-size:20pt; color:darkgreen"><br><br>Mũ Xanh Huỳnh Thừa Dũng <br><br><i>Một buổi trưa cuối tuần, quanh quẩn trong khu Eden, khu chợ khang trang của người Việt vùng Northern Virginia, vào giờ cao điểm tìm một chỗ đậu xe không phải là dễ dàng, cứ chạy vòng quanh từ <b>những con đường mang tên các tướng lãnh Việt Nam, những người đã tuẫn tiết, đã tự kết liễu đời mình sau khi lệnh đầu hàng được phát ra từ người lãnh đạo tối cao của Việt Nam Cộng Hòa</b>. Nào Thiếu tướng Nguyển Khoa Nam, nào Thiếu tướng Trần Văn Hai, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, nào Đại tá Hồ ngọc Cẩn… Tôi không bỏ qua cơ hội nói một chút tiểu sử của các tướng lãnh anh hùng nầy cho các con tôi, những đứa trẻ sinh trưởng tại đất nước nầy chỉ biết lõm bõm về lịch sử Việt Nam, và hầu như không có chút hiểu biết gì về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. <br><br>- Tại sao phải tự tử? Sao cha không tự tử? Cha cũng là lính mà. <br><br>Tôi như ngẩn ngơ, tê dại, trí óc tôi như bị đông cứng sau câu hỏi ấy… và tôi không có câu trả lời cho đứa con trai nhỏ của tôi. <br><br>Trong mơ màng suy tưởng, trở về lại với những hình ảnh không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3 năm ấy (1975) tại cửa biển Thuận An. <br><br> ...................................................... </i><br><br> Theo chân đơn vị tôi, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến di tản từ Phong Điền, tôi trong nhóm người của Bộ Chỉ Huy nhẹ tạm trú trong chi khu Hương Trà một ngày trước đó và hôm sau chúng tôi nhập theo dòng người di tản xuôi nam về Đà Nẵng theo như kế hoạch, gặp lại Bộ Chỉ Huy tại Đập Đá, một chút an tâm, không còn lo lắng nữa. Tâm trạng của một anh lính mới tò te như gặp lại người thân sau thời gian thất lạc. <br><br> Lần mò cùng nhau trong một đêm trời tối như mực, lẳng lặng cùng đoàn người bước nhanh chỉ nghe những tiếng động lụp cụp va chạm của khẩu súng và dây ba chạc cùng tiếng sè sè thỉnh thoảng phát ra từ chiếc máy truyền tin. Vững tâm đi bên cạnh Đại Bàng 416 vị Lữ Đoàn Phó của tôi. <br><br> - Dừng lại! 416 khẽ ra lệnh. <br><br> Có tiếng máy nổ của xe tăng mổi lúc mổi rõ hơn, cảm giác sợ hãi chạy dài theo xương sống tôi, xe tăng của địch chận đường chăng? <br><br> 416 một mình tiến về phía trước, vài phút sau ông trở lại và ngắn gọn nói: <br><br> - Tiếp tục đi. <br><br> Thì ra đó là đơn vị bạn. <br><br> Rạng sáng hôm sau tất cả chúng tôi đã đến được bờ nam Cửa Thuận An sau khi vượt phá, chiếc Duyên Vận Hạm 801 đang chờ đợi chúng tôi nhưng vì tàu đậu quá xa bãi trong khi những ngọn sóng khá lớn khiến chúng tôi không lên tàu được theo kế hoạch. Đại bàng Lâm Thao Đại Tá Nguyễn Thế Lương Lữ Đoàn Trưởng đang liên lạc tìm cách khác, sẽ có các LCU vào để rước chúng tôi.Theo kế hoạch Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn sẽ lên chuyến tàu thứ tư, bình tĩnh và an tâm khi biết rõ ràng rằng khuya nay sẽ có tàu đón chúng tôi. Ngồi xuống trên một triền đồi đầy những cội dương già nhìn ra biển xanh mênh mông với những làn gió mát tôi đang thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên… <br><br> Hỗn loạn xảy ra, bắt đầu bằng sự xuất hiện của chiếc M113 chạy như điên cuồng vào tuyến của Lữ Đoàn, địch quân đã rượt theo chúng tôi và đã qua phà đang hướng về chúng tôi. Lệnh ban ra cho các tiểu đoàn bung xa ra làm tuyến bảo vệ cho Lữ Đoàn và sau đó tiếng súng nổ dòn, tiếng nổ của những viên đạn súng cối địch như rải đều trên đám đông chúng tôi. <br><br> Lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến và kinh nghiệm những viên đạn như xé gió, như ghim vào da thịt chúng tôi, lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy những thân xác của con người bị hất tung lên cao và rơi xuống bất động bởi những trái đạn súng cối 81 ly, lần đầu tiên trong đời, tôi kinh nghiệm sự tàn phá của những quả đạn nổ tung mang theo thịt, da trộn lẫn với máu tươi còn nóng hổi tung tóe vào mặt mũi của chúng tôi, như là lần đầu tiên trong đời chứng kiến sự tàn phá và hủy diệt của chiến tranh trước sự sống của con người. <br><br> Đêm xuống, những tiếng súng cùng các tiếng đạn súng cối cũng thưa dần, không biết có phải trong các chiến trận khác khi đêm xuống khi mà không còn ai nhìn thấy ai, khi mà không còn phân biệt bạn hay thù thì không còn tiếng súng không? Hay tạm nghỉ ngơi để ngày mai đánh tiếp? <br><br> Muốn nhắm mắt ngủ một giấc sau những giờ căng thẳng nhưng không tài nào làm được, cứ lo sợ vẩn vơ. <br><br> Tàu tới! <br><br> Âm thanh động cơ của những con tàu tiếp rước chúng tôi nghe như dễ thương chi lạ, hình ảnh những khối sắt lù lù xuất hiện sau những lớp sương mù trong đêm khuya trên biển như đẹp đẽ làm sao! <br><br> Đại đội Quân Y lăng xăng, cùng các đơn vị khác như truyền tin, pháo binh lần lượt mang theo những người bị thương lên tàu và ra khơi. <br><br> Con tàu thứ hai xuất hiện, Đại bàng Lâm Thao Đại tá Nguyễn Thế Lương, 416 Trung tá Nguyễn Đăng Tống, Thiếu Tá Nguyễn Văn Minh trưởng Ban 3, Trung Úy Châu trưởng ban 2 cùng Đại Tá Thiệt Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân, người chỉ huy một Liên Đoàn Biệt Động Quân mà bây giờ chỉ có mỗi mình ông nhờ vào sự che chở của chúng tôi, cùng nhau sánh bước hướng về con tàu đẹp đẻ nầy. Tôi nhớm mình như muốn theo chân Đại Bàng 416 nhưng khi nhìn qua Đại Úy Lương Văn Cường, Trưởng ban 5 vị Chỉ huy trực tiếp của tôi thấy ông không có chút phản ứng làm tôi mất hứng, thôi chờ chuyến kế tiếp và không bao giờ tôi nhìn thấy con tàu thứ tư như theo kế hoạch. <br><br> Con tàu thứ ba xuất hiện lệch một chút về hướng Bắc, ra ngoài khỏi phạm vi phòng tuyến của Lữ Đoàn. Đây là con tàu định mệnh cho biết bao nhiêu con người chúng tôi. Vào đến bờ, vì ngoài tuyến của Lữ Đoàn các đơn vị khác nào Bộ Binh, nào Biệt Động Quân cùng Thủy Quân Lục Chiến tranh nhau lên tàu, con tàu như không còn chứa đựng thêm nổi nữa vì đầy ắp những con người như không còn chỗ trống nào, chưa kể không biết bao nhiêu người đang bám víu vào chung quanh thành tàu. <br><br> Có thể vì sức nặng của biết bao nhiêu con người đã làm con tàu bị kẹt, phía sau tàu như bê sang trái, rồi bê sang phải tạo dịp cho sức hút của chân vịt tàu hút vào những thân thể đang lội xung quanh phía sau tàu và tôi như thấy màu đỏ của máu đang loang dần… <br><br> Một tiếng nổ kinh hồn ngay giữa tàu nơi mà dầy đặc những con người, dầy đặc những thân thể bằng thịt, bằng xương, không biết rằng có bao nhiêu người bị chết hay bị thương sau tiếng nổ ấy, rồi những thân thể còn có thể di chuyển được lại tranh nhau rời khỏi tàu. <br><br> Hỗn loạn tiếp diễn với những quả súng cối, B40 và những tràng AK bắn vung vãi vào chúng tôi tại bờ biển chỉ hơn 3 km tập trung hàng ngàn người chúng tôi chạy ngược về hướng bắc khi hướng đạn đang hướng về phía nam nhiều hơn, rồi lại chạy trở lại hướng nam để tránh bớt hỏa lực tập trung của địch. Chung quanh tôi không còn ai quen chỉ thấy toàn những gương mặt lạ mà bảng tên với những màu sắc khác nhau, tôi biết đó là các đơn vị đang thất lạc trong hoàn cảnh hỗn độn nầy. Miệng khát, thân mỏi, cảm giác rã rời, trong hoang mang cùng tột tôi cứ theo đoàn người khi ngược bắc khi xuôi nam, khi chạy nhanh, khi lê lết với những bước chân vô định, khi len lỏi sâu vào trong đám đông với hy vọng sẽ có những thân người che chở cho mình từ phía ngoài, khi thẫn thờ lê những bước chân mệt nhọc, thôi mọi chuyện phú cho Trời… <br><br> Trong vòng thời gian của ngược xuôi, xuôi ngược ấy có rất nhiều hình ảnh đậm nét khó quên, nhiều hình ảnh thật bi thương, não nề của những người lính chiến, họ đang góp nhặt những viên đạn, những băng đạn, những trái lựu đạn vương vãi đâu đây, họ đang quải trên vai vài dây ba chạc và mổi người với một nón sắt trên tay chứa đựng những viên đạn, băng đạn mà họ có thể tìm để mang về đơn vị mình để tiếp tục chiến đấu bảo vệ cho chúng tôi, những người đằng sau chiến tuyến. <br><br> - Anh Đống… Tôi mừng rỡ kêu lên khi thấy Trung Sĩ Nhất Đống của ban 4 đang một mình với cây đại liên 50 mà đã được tháo gỡ từ chiếc M113. Trên bờ cát một mình anh đang bắn cầm chừng như bảo vệ cho đoàn người đang chạy tới chạy lui như tôi. <br><br> - Ở đây với tao mậy, chạy chi cho mệt. <br><br> Nhìn nét mặt không một chút lo âu của anh tôi cảm thấy an tâm hơn nhiều. <br><br> - Được, tôi trả lời vỏn vẹn. <br><br> - Mầy ở đây nghe, bắn về đằng cái miểu đó, vừa nói vừa chỉ về những bóng dáng khi ẩn khi hiện chung quanh cái miếu xa xa, tao đi kiếm cái nón sắt, lạnh ót quá mậy… <br><br> Bắn cầm chừng về phía những bóng người xung quanh miểu khi mà dây đạn cuối cùng cũng không còn bao nhiêu, vừa chờ đợi anh Đống trở lại, một hồi lâu không thấy, nhớ lại tôi cũng không có cái nón sắt trên đầu, cảm thấy phía sau ót lạnh dần, cảm giác lành lạnh nầy lan dần đến chân, mới hiểu được “lạnh ót” và “lạnh cẳng” là như thế nào. <br><br> Đêm dần xuống, lại nhập vào dòng người về chạy về hướng Nam, khi chạy, khi dừng, khi đi, khi ngồi nghỉ cho đến khi đoàn người bị khựng lại vì địch quân đã tràn ra và chận bắt chúng tôi. Cảm giác thật lạ lùng, như có được một kết thúc cho tâm trạng hoang mang mấy ngày nay, cho dù thế nào đi nửa đó có phải là một kết thúc? <br><br> Nhớ lại đoạn cuối của cuốn sách Tháng Ba Gãy Súng, Cao Xuân Huy viết: <br><br><ul><i>“... Lại có rất nhiều người tự tử Bây giờ họ không tự tử từng người mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư người thứ năm nhập bọn, họ ngồi với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa. <br><br> Tôi không thể đếm nổi là đã có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ ở giữa vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.” <br><br> Đây không phải là hình ảnh của hư cấu mà là những hình ảnh thật, rất thật, đây không phải là những hình ảnh của tưởng tượng để thêm phần bi thảm cho câu chuyện của Anh mà là hình ảnh bi thương và hào hùng của những anh hùng vô danh mũ xanh còn được gọi là lính trừ bị Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. <br><br> - Tự tử hôn mậy? <br><br> Lời đề nghị nghe kỳ cục làm sao! lạ lùng làm sao! <br><br> Tôi như ngẩn ngơ, ngơ ngẩn, thẫn thờ, thờ thẫn, không biết phải diễn tả một cách thật chính xác cho tâm trạng của mình ngay thời điểm đặc biệt nầy. <br><br> “Thủy Quân Lục Chiến thà chết không hàng.” <br><br></ul> Sau câu nói đồng loạt nầy, lựu đạn nổ… màn khói tan nhanh để thấy rõ những xác người trong tư thế cúi gập người lại với nhau, những mái đầu xanh như chụm lại với nhau, cũng có xác bị xô lệch khỏi trật tự nầy, toàn những khuôn mặt như thật trẻ trung chỉ trong khoảng vừa trên 20, lứa tuổi của tôi....” </i><br><br> Tôi như ngây dại, thẫn thờ trước hình ảnh bi thương đầy hùng tráng nầy, tôi như không có một chút gì của lý lẽ, hay một chút nguyên nhân nào để giải thích cho câu hỏi trong đầu tôi lúc ấy. Tại sao như vậy? <br><br> Cho đến bây giờ cũng thế, tôi cũng không biết phải giải thích như thế nào cho mọi người hiểu được tại sao, vì tôi nghĩ rằng chỉ có những người đã từng một lần mặc lấy bộ đồ sọc rằn với phù hiêu TQLC trên vai mới hiểu được là tại sao! Vì đó là truyền thống Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. <br><br> Lịch sử có ghi lại những cái chết như thế nầy không? <br><br> Chúng ta có biết nhiều về những câu chuyện như thế đó không? <br><br> Họ là ai? <br><br> Tôi là người trong tình cờ cạnh bên họ trong chính giây phút đó mà vẫn không biết họ là ai? <br><br> Chỉ biết rằng - <b>họ là những anh hùng mũ xanh cùng cái chết thầm lặng.</b><br><br> <b><i>Những ai đã chết vì Sông Núi,<br>Sẽ sống muôn đời với Núi Sông.</i></b><br><br> Mũ Xanh Huỳnh Thừa Dũng <br>BCH LĐ 147 <br><br> http://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%BA%B7nghttp://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%http://hoiquanphidung.com/showthread.php?10464-Nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-th%E1%BA%A7m-l%E1%BA%B7ngBA%B7ng </div> <br><br> <br><br> </TD></TR></TBODY></TABLE><br></TD></TR></TBODY></TABLE> <p align="center">&nbsp;</p> <p align="center">&nbsp;</p> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" align="center" height="0" width="120%"> <tbody> <tr valign="top"> <td style="PADDING-LEFT: 105px;background:-webkit-linear-gradient(left,#330066,thistle 5.5%,white);starts at the top to bottom;" ;box-shadow:"> <div style="border-left:0px solid darkmagenta"> <table style="background:-webkit-linear-gradient(left,white, thistle 0.5%, white);" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="120%"><tbody><tr><td> <br><br><br><br><br><ul><font size="5" color="navy"><b>VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ</b><br><br>Những người lính VNCH đó họ đã anh dũng vừa chống trả từng đợt xung phong dữ dội nầy đến đợt xung phong dữ dội khác của Bắc Việt, vừa chịu đủ các loạt pháo kích đủ cỡ đủ loại, kể cả rốc kết tầm xa, tầm gần, vừa chịu đựng các đợt tấn công tới tấp của hằng loạt chiến xa T.54....<br>Họ đã hạ tại chỗ 9 chiến xa kiểu T.54 của Nga Sô và một số lớn quân Bắc Việt... <br><br> Một tuần sau đó người ta phải dùng xe ủi đất để gom hơn trăm xác chết lại thành từng đống một, người ta chế xăng lên, và cho lửa đốt các xác nầy. Ngọn lửa bùng lên cao ngút, như nói lên cho kẻ chiến thắng biết là những người lính chiến Miền Nam Việt Nam chỉ biết chọn cái chết trong vinh quang và trong danh dự hơn là phải chịu thất trận và đầu hàng địch quân cộng sản, và cái chết hôm nay cũng chưa phải là đã hết... <br><br> Đường phố chung quanh sân bay Tân Sơn Nhứt vắng lặng và rải rác những xác chết, chỉ có tiếng rốc kết réo vang và tiếng nổ máy của chiến xa... Ở một vài ngả tư đường, đây đó vẫn còn nhiều binh sĩ và đặc biệt là các cán binh chiêu hồi đang kháng cự hết sức anh dũng, ở vùng Chợ Lớn. <br><br> Tại một ngả tư nọ, có sáu chiến sĩ VNCH cùng tựa lưng vào tường đang chận đứng một toán Việt Cộng, làm họ không tiến lên được phải gọi chiến xa tới tăng viện. Chiến xa Bắc Việt đến, sáu chiến sĩ VNCH bèn gom lại thành một tụ ngay giữa ngả tư, một trong sáu người người chiến binh VNCH đó, có lẽ là người chỉ huy mở chốt lựu đạn, một loại lựu đạn tròn của Mỹ, và cho nổ ngay chính giữa nhóm sáu người, họ chết tươi... sau đó cuối cùng các chiến xa của Việt cộng kia cũng không khoan nhượng, tử tế gì, tiến lên cán nát hết những thây ma VNCH ‘phản động’ đó! <br><br> <img src="https://lh3.googleusercontent.com/orx7kAXrC6Yelg2r2UNyNNRjP37fFj-Ei_x0FFoVvj_HKyuUkcdS7_WjWkqHBRvIyLsQkLozXdNf3U_by_UkxEEvZ0Zns9NR-Stt8g=w1280-h1024-rw-no" width="540"> <br><br>CHƯƠNG HAI/VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ/LA MORT DU VIETNAM <br><br></font><br><br><br><br> <br></ul> <br></td></tr></tbody></table> </div></td></tr></tbody></table> <p align="center">&nbsp;</p> <b>Tượng đài Chiến Sĩ Vô Danh</b><br><a href=" https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/10791384644/ "target="_blank"><font color="darkviolet"><b>https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/10791384644/ </b></font></a> <p align="center">&nbsp; </p><p align="center">&nbsp; </p>

 

Sunday, February 17, 2019

Đổi Tiền & Kinh Nghiệm Đổi Tiền

Đổi Tiền & Kinh Nghiệm Đổi Tiền

Phiếu cung cấp 'thịt cơ động'
Phiếu cung cấp thịt cơ động
Một thời sống trong chính sách "dùng bao tử để trị dân" của Việt cộng

Sau khi cưỡng chiếm miền nam Việt Nam, ba lần đổi tiền:

► Đổi tiền ngày 22/9/1975
► Đổi tiền ngày 03/5/1978
► Đổi tiền ngày 14/9/1985

Ít ai nhận ra rằng Việt cộng đã dùng chính sách đổi tiền để gián tiếp cướp nhà, cướp đất.

Đổi tiền $500 an $1, để rồi với một số tiền cũng chỉ đủ ăn trong một tháng, (bột mì, bo bo v. v…) và sau đó thì ngoài đường phố bắt đầu xuất hiện những nhóm mua bán (chợ trời) tại Lăng Ông Bà Chiểu, và tất cả mọi người ai cũng đem đồ nhà đi bán, cái gì cũng bán được, miễn sao có tiền để sống qua ngày.

Nhiều gia đình đã bán từ từ cho đến lúc trong nhà không còn gì để bán, chỉ còn lại cái NÓC NHÀ, và cuối cùng thì nhiều gia đình cũng phải đành bán luôn căn nhà cho một cán bộ Việt cộng.

Lúc đó ít ai nhận ra rằng Việt cộng đã dùng chính sách đổi tiền để gián tiếp ăn cướp nhà, cướp đất của người dân, vì lúc đó ai cũng nghèo như ai, làm gì có nhiều tiền mà mua nhà, mua đất ngoài cán bộ Việt cộng, và đó cũng là thành quả của chính sách đổi tiền. Trong khi đó ngoài chợ trời, lúc đó chúng ta thấy mỗi ngày vài chục chiếc xe chất đầy hàng chợ trời chạy từ Nam ra Bắc.

Dân miền Nam thành nghèo mạt trong khi đó những thằng Việt Cộng bắc kỳ từ Bắc vào Nam là giàu sụ.


 

Đổi Tiền

Thân chào tất cả anh chị em và 85 triệu người dân Việt Nam.

Tôi xin chia sẻ với mọi người về một kinh nghiệm thật là chua chát của gia đình tôi và cả cái đất nước mà tôi hiện đang sống để mọi người hiểu rõ được hiện tình của Việt Nam rồi sẽ đi về đâu? Vì đây là cái bài học (đặc biệt) mà thằng cộng sản nào cũng xài đến khi bị đến đường cùng (hết thuốc chữa).

Tôi sống tại một nước cộng sản đông Âu, năm 1990 tình hình kinh tế của nước nầy cũng thê thảm như VN ngày nay, lạm pháp tăng hàng giờ, đồng tiền bị mất giá, cộng sản nước nầy không làm được gì ngoài chuyện in tiền bù lỗ, và rồi cuối cùng thì trái bom kinh tế bị nổ tung, cộng sản không còn cách nào khác ngoài việc phát lệnh đổi tiền 1000 đổi lấy 1, và mỗi người chỉ được đổi 200 không được hơn. Như vậy là gia đình tôi và cả cái (đàn cừu dân tộc) của nước nầy bị mất trắng tay số tiền mà cả đời họ đi làm để dành dụm cho gia đình và con cháu họ, vậy là biết bao nhiêu gia đình cừu sống dở, chết dở vì trắng tay.

Còn gia đình của những thằng cộng sản chóp bu và đảng viên trong hội cướp của tụi nó thì sao?

Xin thưa là tụi nó vẫn sống sung sướng và còn ăn chơi trác táng hơn trước khi đổi tiền, vì gia đình cừu thì chỉ có đổi được mỗi người 200, còn Việt cộng thì có vây cánh trong ngân hàng thì đổi bao nhiêu mà không được (vì tiền mới thì cũng là của tụi nó in ra mà thôi).

Sau khi đổi tiền xong thì hậu quả của tệ nạn ăn chơi trác táng của cs và con cháu tụi nó còn ghê gớm hơn, vì người dân không còn tiền như trước, và đàn bà con gái họ sẵn sàng bán thân với bất cứ mọi giá, miễn sao có tiền để mua lương thực để sống. Và điều nầy không phải chỉ xảy ra ở 100% (cừu nhân dân) mà nó cũng xảy ra ở những gia đình (cừu cs thấp cổ bé miệng) nữa.

Việt Nam đang đi vào con đường ăn quỵt của chủ nghĩa (Cắc Mác) mọi người VN hãy tìm hiểu thêm và tự tìm cho gia đình mình (đề phòng chống ăn quỵt của cộng sản) và cũng xin nhắc lại là cái sự chua chát không chỉ dành cho những (con cừu nhân dân mà thôi, mà tính luôn cả những con cừu cộng sản tép riêu). Chúc 85 triệu con cừu Việt Nam may mắn.

benzi60

Ngày 1 Tháng 4 / 2013


http://wwww.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=7672&page=1115



 

Phiếu cung cấp thịt cơ động

 




Kinh Nghiệm Đổi Tiền

Tôi xin kể thêm về chuyện hậu quả của việc sau khi đổi tiền (ít ra thì tôi đã chứng kiến qua hai lần) để cho ai chưa hiểu, hoặc đã quên thì sẽ thấy được phần nào sự khủng hoảng của xã hội sau khi đổi tiền xong.

Lần thứ nhất là sau 1975 (tôi sinh ra tại quận Bình Hòa, tỉnh Gia Định, Sài Gòn) gia đình tôi có bốn người, chúng tôi có một căn nhà không lớn lắm ngoài mặt tiền, đổi tiền xong, thì ba tôi bị đi học tập cải tạo chỉ còn lại má tôi và hai anh em tôi (tôi là lớn) và một số tiền chỉ đủ ăn trong một tháng, (bột mì, bobo… v. v...) và sau đó thì ngoài đường phố bắt đầu xuất hiện những nhóm mua bán (chợ trời) tại Lăng Ông Bà Chiểu, và tất cả mọi người ai cũng đem đồ nhà đi bán, cái gì cũng bán được, miễn sao có tiền để sống qua ngày, và gia đình tôi đã bán từ từ cho đến lúc trong nhà không còn gì để bán chỉ còn lại cái NÓC NHÀ, và cuối cùng thì má tôi cũng phải đành bán luôn căn nhà cho môt cán bộ Việt cộng, và đi kinh tế mới tại xuyên mộc tỉnh Bà Rịa.

(Hồi đó tôi còn nhỏ nên không thể nghĩ ra, là Việt cộng đã dùng chính sách đổi tiền để gián tiếp ăn cướp nhà, cướp đất của người dân, vì lúc đó ai cũng nghèo như ai, làm gì có nhiều tiền mà mua nhà, mua đất ngoài cán bộ Việt cộng, và đó cũng là thành quả của sự đổi tiền và chợ trời, mà lúc đó chúng ta thấy mỗi ngày vài chục chiếc xe chất đầy hàng chợ trời chạy từ Nam ra Bắc).

Và lần thứ hai là tại Đông Âu, tôi là thợ bảo trì máy và sửa chữa điện tử cho một doanh nghiệp tư nhân, ở nước ngoài thì người ta có suy nghĩ xa hơn là ở Việt Nam, vì cuộc sống cũng thoải mái hơn, chỉ cần đi làm công nhân bình thường củng đủ sống và có dư chút đỉnh, cho nên mọi người có một thói quen tập quán chung là tạo cho những đứa con, cháu mình một sổ tiết kiệm trong ngân hàng, để khi con, cháu trưởng thành đúng 18 tuổi thì được phép xử dụng số tiền đó, hòng giúp đỡ được phần nào về tài chánh khi con, cháu của họ chập chửng bước vào đời, và người già thì có sổ tiết kiệm để làm mai táng khi họ chết, và nhiều loại sổ tiết kiệm khác v. v… (tất cả đều bị tan biến theo mây khói,sau khi đổi tiền.)

Và cộng sản ở đây đã đổi tiền, mỗi người chỉ đổi được một khoản tiền nhất định, còn ai có nhiều tiền hơn qui định thì cộng sản sẻ cấp cho một cái giấy gọi là (phần hùn vốn chứng nhận, chứ cộng sản không ăn quỵt của ai bao giờ) và gia đình tôi cũng có vài cái giấy chứng nhận mà (đòi không ai trả, bán không ai mua, và cho không ai lấy) còn bản thân tôi thì sao? Xin thưa là bị thất nghiệp sau hai tháng đổi tiền xong, vì xưởng làm việc của tôi đã phải đóng cửa vì không có tiền trả lương cho công nhân, và cái phần khốn khổ của gia đình tôi về sau còn nhiều chuyện thê thảm lắm nhưng tôi xin không nói ra, làm mất thời gian của các bạn.

Mọi người đã hình dung ra hậu quả của việc ĐỔI TIỀN chưa? Ai là người có lợi, và ai sẽ là những con thiêu thân sau nầy? Và sau khi đổi tiền thì mọi chuyện sẽ lặp lại giống như năm 1975 vậy thôi, chợ trời sẽ mọc lên như nấm, và tiếp đó là hàng loạt chuyến xe hàng vừa quý, vừa rẻ, sẽ khởi hành nhưng lần này thì trạm cuối cùng không phải là Hà Nội nữa, mà là Bắc Kinh Trung Quốc. Người dân oan nông dân Việt Nam, bây giờ còn biểu tình không bán đất giá rẻ cho Việt cộng, vì họ còn vài đồng trong túi để sống cho nên họ còn cố gắng chống cự biểu tình, chứ một khi mà đổi tiền xong thì nhiều người sẽ tự nguyện dâng đất đai cho Việt cộng và lúc đó Việt cộng trả giá bao nhiêu thì họ cũng phải bán vì không còn tiền mua gạo để sống qua ngày nữa (mặc dù họ cầm trong tay một đống giấy chứng nhận, cho không lấy, bán không ai mua).

Đây chỉ là một vài khía cạnh nhỏ về chuyện trong gia đình của mỗi người chúng ta, về người dân oan, còn về phía người công nhân và những người chủ doanh nghiệp thì sao? Chủ doanh nghiệp thì nhiều người sẽ phải đóng cửa và sẽ sa thải công nhân vì không có tiền trả lương, về phía chủ doanh nghiệp thì sao?

Bao nhiêu tiền đầu tư vào phương tiện máy móc với giá cả cao khi họ mua, và bây giờ khi họ bị đóng cửa thì họ dành phải bán tháo, bán chạy với giá rẻ mạt, thậm chí bán với giá sắt vụn, chứ để làm gì? Và lúc đó là thời cơ cho bọn cộng sản đỏ ăn cướp công khai và làm giàu trên mồ hôi và nước mắt của mọi người dân, cộng sản đỏ mafia sẽ bỏ ít tiền ra để mua lại những cái máy móc đó của nhửng tư nhân bị phá sản vì đổi tiền, với giá rẻ mạt, và sau đó có thể những cái máy đó sau khi sơn phết lại thì sẽ được chở sang bán tại một tỉnh hoặc một nước nào đó mà nền kinh tế còn lạc hậu cũng như Việt Nam, chẳng hạn như Lào, Campuchia, Châu phi v. v…

Đó là quy luật của mafia cộng sản đỏ là (Cá lớn ăn cá bé) mà đã là cá thì người ta chỉ nói cá lớn ăn cá nhỏ thôi, chứ không có ai nói cá già ăn cá trẻ cả cho nên sẽ không có sự phân biệt là cá nhỏ cộng sản hay không cộng sản, tất cả đều là cá nhỏ như nhau; cho nên sau khi đổi tiền xong thì 100% sẽ có những con cá nhỏ là đảng viên, đoàn viên Việt cộng (những người mà suốt đời đóng tiền đảng phí, đoàn phí, đội phí... mà không biết mình đóng để làm gì) sẽ bị những con cá lớn mafia đỏ Việt cộng nuốt, chung với số phận của những người dân oan, công nhân lao động, và các tầng lớp bần cố nông Việt Nam.


benzi60

http://wwww.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=7672&page=1154



 

Đổi Tiền

Nguyễn Hiến Lê

Chính sách đổi tiền của chính phủ càng thất nhân tâm hơn nữa. Vụ đổi tiền lần thứ nhất xảy ra tháng chín hay tháng mười 1975, và xảy ra rất đột ngột.

Sáng sớm hôm đó dân chúng mới hay rằng phải đổi tiền nội trong 24 giờ và mỗi người dân già trẻ lớn bé được đổi một số tiền là bao nhiêu đó tôi quên rồi, chỉ còn nhớ số tiền này như gia đình tôi chỉ đủ tiêu trong một tháng hay tháng rưỡi là cùng. Những người làm chủ một hãng, như hãng buôn, nhà in, xưởng chế tạo... có giấy chứng nhận của phường, quận... mới được đổi thêm 1.000 đồng mới (1 đồng mới ăn 500 đồng cũ), tính ra cũng chỉ đủ chi tiêu trong một tháng. Chính quyền không cho biết số tiền còn lại, sẽ giữ tại ngân hàng và sẽ cho rút ra lần lần tùy nhu cầu; thành thử ai cũng hiểu lầm rằng số đó sẽ bị hủy bỏ. Do đó rất nhiều người phẫn uất, tuyệt vọng; có người tự tử, có người đốt hằng thúng giấy bạc, hoặc từ trên lầu vãi giấy bạc xuống đường, không ai thèm lượm; ở Mỹ tho, nhiều tiệm Trung hoa thồn giấy bạc vào cà roòng, thả trôi sông.

Chỉ thị phải đổi nội trong 24 giờ làm cho mọi người hoảng hốt, tranh nhau đổi, sợ trễ. Nhưng chỉ thị đó, chính cán bộ không tuân theo; ở phường tôi họ cứ nhởn nha làm việc; chín giờ sáng mới tới phòng đổi tiền để xếp đặt công việc, mười một giờ mới quyết định xong, thì nghỉ ăn cơm; một giờ mới phát cho dân đơn khai số tiền có trong nhà. Dân chen chúc nhau ở cửa phòng, đưa sổ gia đình để họ xét họ xét rất lâu như sợ có sổ giả mạo, rồi mới chịu phát đơn. Các tổ trưởng đề nghị tiếp tay họ trong việc đó, họ không cho vì ngờ có thể gian lận.

Đem đơn về nhà khai xong, lại mang tới đề nộp, lại chen lấn nhau lần nữa. Hai vợ chồng tôi thay nhau làm những việc xin đơn, nộp đơn, chiều đó mới xong, mệt đừ.

Trên đơn họ tính trong nhà có bao nhiêu người, cho phép đổi bao nhiêu, tính xong thì khuya rồi, đề sáng hôm sau mới đổi. Họ làm việc rất chậm, mãi nửa đêm hôm sau mới đổi xong. Như vậy là lệnh của chính phủ không được tuân. Có phường năm ngày mà đổi vẫn chưa xong, vì họ phải xét đi xét lại một điều gì đó, tôi không hiểu. Dân chầu chực suốt 5 ngày 5 đêm ở ngoài nắng, dưới mưa, lại không có tiền tiêu (vì trong lúc chở đổi tiền, giấy bạc cũ vô dụng, giấy bạc mới chưa có), nổi lên phản kháng, biểu tình, họ bắt giam một số. Nhưng cũng có chỗ đổi rất mau, chỉ 24 giờ là xong.

Vậy là cấp trên không biết tồ chức hoặc biết tổ chức mà cấp dưới không thèm nghe, tự ý làm sao thì làm, và hạng người ngu dốt, được cơ hội, tha hồ hách dịch, làm khó dân.

Một cái tệ nữa là không có sự kiểm soát, khiến nhiều cán bộ gian lận, làm giàu. Các cơ quan đổi bao nhiêu tiền cũng được, chỉ cần làm tờ khai. Cơ quan có trong quỹ 100 triệu đồng cũ chẳng hạn thì khai 150 triệu, 50 triệu dư đó đem mua tiền của dân. Dân có tiền không đổi được, bán rẻ cho cơ quan, lấy 50%, 30% thôi, cơ quan lời 50%, 70% chia cho nhau. Thí dụ: tôi có dư 1 triệu đồng cũ không đổi được, đưa cho cơ quan đổi, cơ quan chỉ giao cho tôi nửa triệu (50%) tức 1.000 đồng mới; cơ quan giữ lại nửa triệu, để chia nhau. Đó là chỗ thân tình lắm chứ giá thường là 30%, và gần tới giờ chót chỉ còn 10%. Nửa ngày cuối cùng, người ta tấp nập mua bán như vậy, công an phường chắc biết dư mà chẳng thấy phát giác vụ nào cả.

Lần đó là lần đầu tiên tôi thất vọng, thấy rõ chân tướng chẳng tốt đẹp gì của các đồng chí cách mạng trong chủ nghĩa xã hội đã được Hồ chủ tịch dạy dỗ mấy chục năm. Họ bỉ ổi, bê bối còn hơn chế độ tư bản nữa. Tôi không vơ đũa cả nắm. Cũng có một số liêm khiết, xã hội nào cũng vậy.

Đêm đó 11 giờ khuya tôi mới đổi tiền xong, trả phần của một đứa cháu trong nhà, và trả cho nhà tôi số tiền tiêu riêng của nhà tôi rồi, chỉ còn đâu có 6-7 chục đồng, mà mỗi tháng chúng tôi tiêu ít nhất 50 đồng mới đủ. Tôi chìa cho nhà tôi xem, bảo: "Bao nhiêu tiền tiết kiệm của mình chỉ còn có mấy tấm giấy này thôi!" Nhà tôi làm thinh. Tôi cất tiền rồi, mệt quá, đi ngủ liền.

Sáng hôm sau dậy sớm mới thấy buồn thấm thía. Còn trà tàu Đài loan của một độc giả cho, tôi pha một bình nhỏ, rót một chén đem xuống cho nhà tôi đương quét sân. Rồi tôi đi dạo trong xóm xem dân tình: ai cũng lặng lẽ, đăm chiêu. Nửa giờ sau về nhà. Nhà tôi cho hay đã bán được một lon sữa đặc đủ đi chợ một ngày. Tôi bảo: "Cần gì phải như vậy. Mình còn nhiều đồ khác để bán mà." Nói vậy, nhưng nước mắt tôi cũng rưng rưng vì cảm động.

Mấy hôm sau, có lẽ chính phủ thấy chính sách đó khắc nghiệt quá, cho nên ra lệnh cho đổi thêm một số nữa bằng số lần trước. Lại khai báo, lại chầu chực, nhưng lần này mau hơn. Ngân hàng trả lại tôi một số tiền nữa, còn bao nhiêu ghi vào sổ tiết kiệm của tôi. Vậy là chưa mất hết. Từ đó mỗi tháng vợ chồng tôi được rút ra 60 đồng cho hai người, lại bán thêm được một ít sách nữa, cho nên đủ tiêu. Được đâu một năm như vậy rồi chẳng hề có thông cáo, thông báo gì cả, ngân hàng cứ lẳng lặng không phát thêm nữa. Hiện nay trong sổ tiết kiệm của tôi còn mấy ngàn đồng, tôi không nhớ. Sổ đó đã vô dụng rồi, tôi giữ làm kỷ niệm của một thời.

Tóm lại, chính sách của nhà nước là muốn quản lý tiền bạc của dân: chỉ cho mỗi gia đình giữ một số đủ mua gạo, rau... trong một hai tháng, còn bao nhiêu gởi ngân hàng hết, phải có lý do chính đáng như đau ốm, cưới hỏi, ma chay... mới được rút ra. Tiến bộ hơn Nga nhiều. Nhưng hậu quả là không ai muốn gởi tiền ngân hàng nữa, và chính sách đó phải bỏ.

Gần đây đọc một cuốn sách tôi được biết chính phủ Sô Viết ở Nga sau cách mạng 1917 cũng có một lần đổi tiền cho dân: cứ dưới 3000 rúp (rouble) (tôi không biết một rúp thời đó bằng bao nhiêu quan Pháp) thì một rúp cũ đổi lấy một rúp mới, còn trên số đó thì hai rúp ca đổi một rúp mới. Chính sách đó nhân đạo hơn, không gây bất mãn trong dân chúng. Chính phủ mình đã theo chính sách đổi tiền của họ Mao chăng?

Ba năm sau, năm 1978 lại đổi tiền một lần nữa, mà lần này ở khắp nước. Cũng đột ngột, cũng hạn chế số tiền được đổi, nhưng có tổ chức hơn, đỡ khổ cho dân.

Dù dùng mọi cách đề bình sản (tức quân bình tài sản, san phẳng tài sản), dù dùng mọi cách để trừng trị sự làm giàu thì bất kỳ thời nào, trong xã hội nào, cũng chỉ được ít tháng lại có sự bất bình đẳng, có kẻ giàu người nghèo. Một người đã nói: phát cho hai người, mỗi người một ổ bánh mì, chỉ một ngày sau đã có sự bất bình đẳng rồi: kẻ ăn hết ổ bánh đã hóa nghèo hơn kẻ chỉ ăn ba phần tư ổ thôi, để dành một phần tư. Như vậy là có sự tích lũy tài sản rồi. Cho nên tại các nước cộng sản lâu lâu phải đổi tiền một lần, hạn chế số tiền được đổi, tịch thu một số tiền quá lớn nữa. Nghe nói ở Nga từ 1917 đến nay đã đồi tiền non 20 lần, không biết lời đó đúng không.

Vụ đổi tiền năm 1978 làm Bắc Việt xôn xao cũng bằng ở trong Nam và cũng có đủ các tệ như ở Nam. Lần này người ta biết tin trước vài ngày: ai có nhiều tiền (ở Bắc cũng như ở Nam) cũng tung tiền ra mua vàng, xe đạp, vải, tủ lạnh, chén đĩa, bất kì thứ gì với bất cứ giá nào. Có thứ tăng giá lên gấp 10 như vàng, thứ nào tăng ít nhất cũng gấp năm. Có người không biết mua gì, năn nỉ hàng xóm để lại cho con gà, con vịt. Người nghèo có từ nải chuối trở đi cũng đem bán. Ở Bắc có kẻ nhiều tiền quá thồn cả vào một cái bao, chở trên xe đạp, đến một chỗ vắng, làm bộ đánh rớt xuống đường rồi phóng đi như bay. Hạn chế, kiểm soát rất gắt, vậy mà ở Hà nội ngay tối đêm mới đổi tiền, công an lại xét một nhà thấy một số tiền gấp trăm số gia đình đó được phép đổi. Và chính phủ cũng phải làm ngơ.

Sau một phần tư thế kỷ được giáo hóa mà như vậy thì chúng ta phải kết luận ra sao? Có chế độ nào thay đổi được bản tính con người trong một hai thế kỷ không? Bao giờ mới đào tạo được con người xã hội chủ nghĩa để họ xây dựng xã hội chủ nghĩa đây, như Hồ chủ tịch nói?

Mỗi lần đổi tiền là một lần lạm phát. Cứ xét giá sinh hoạt từ 1975 đến nay ở miền Nam thì ít nhất cũng đã có sự lạm phát gấp 10 lần rồi: giá vàng 1975 là 400$ mới, bây giờ (tháng 5-1980) trên 6000$; gạo bán ở chợ thời đó vào khoảng 20 xu mỗi một lít, bây giờ từ 2$ tới 6$, 8$ tùy nơi. Vật giá cũng tăng lên ít nhất là 10 lần.

Giá chính thức thì trái lại, tăng lên rất ít, nhiều lắm là gấp hai; nhưng chỉ công nhân viên được mua gạo với giá đó thôi, còn những nhu yếu phẩm khác thì không có để phân phối; rốt cuộc họ phải mua rất nhiều món ở chợ với giá gấp 10 lần, mà lương không tăng. Tình cảnh của họ thật bi đát. Nạn tà tà, vô kỷ luật, tham nhũng, ăn cắp, buôn lậu phát ra từ đó.

Còn thêm một hậu quả nữa. Dân sợ sự đổi tiền quá, không còn làm ăn gì được; mà dân càng sợ thì càng có nhiều kẻ tung tin vịt ra; mới đổi năm 1978, qua năm 1979 lại có tin đổi tiền nữa, kinh tế hóa khó khăn trong vài tháng, một số kẻ làm giàu thêm, một số nghèo thêm, rồi đầu năm 1980 lại có tin đổi tiền nữa, lần này cũng vịt nữa. Đời sống không được ổn định, dân lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, chẳng trách bệnh bao tử phát dữ dội, gấp mấy thời trước. Không ai muốn tiết kiệm nữa, kiếm được đồng nào tiêu hết đồng đó; những quán ăn, tiệm cà phê nhiều hơn và đông khách hơn trước ngày 30-4-1975.

...

Trích "Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê"





"Saigonaises" Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn

Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ chí Minh. 1 Vì sao? Tro...