Friday, July 26, 2019



Nỗi Buồn Hoa Phượng

- SOLO GUITAR VĂN ANH
https://youtu.be/f79XX6t_yiI




Nỗi buồn hoa phượng (hòa tấu guitar) https://youtu.be/x1EDIXndzGQ



Nỗi buồn hoa phượng (đàn Guitar Điện) https://youtu.be/g0bWAfAMu7w



Nổi Buồn Hoa Phượng (Đàn Tranh).

https://youtu.be/VrdANIzThgA



Nỗi Buồn Hoa Phượng - Đàn Tranh Ngọc Huyền https://youtu.be/V3PWPIAForY

Nỗi Buồn Hoa Phượng
Roland BK3 - Nguyễn Kiên Music
https://youtu.be/X1tqjzRKKGc




NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG

Bước 1: Tỉa nốt giai điệu - NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG [Hướng dẫn 5 bước tự học solo guitar] https://youtu.be/gv8LRvSH51c




Bước 2: Ráp phần giai điệu và phần đệm - NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG [Hướng dẫn 5 bước tự học solo guitar]) https://youtu.be/3VplJZLa9_A




---------------------------------------

Guitar Thuở Ấy Có Em - Slowrock - Thể Hiện Thầy Đinh Ngọc
https://youtu.be/XJN-WLHDL0k



https://youtu.be/KDhrEots7jk




https://youtu.be/q265S7hrD7U




https://youtu.be/lYvuESp3zxY




https://youtu.be/E_E4qxj7zPA




https://youtu.be/SkNmSlO0YOQ


===========================================

Hoa Bằng Lăng guitar điện
https://youtu.be/PbY_XLShACE


Hoa Bằng Lăng || Jimmy Nguyễn || Thành Nghiệp Cover
https://youtu.be/EIRmaLEkFKY


[Guitar] Hoa Bằng Lăng - Jimmy Nguyễn - Hướng dẫn guitar
https://youtu.be/5nwMv7tOEt8


Hướng Dẫn - Hoa Bằng Lăng [Jimmy Nguyễn ]- GUITAR
KEYMAN VTT
https://youtu.be/dFWuW5JI9W4


Hướng dẫn guitar & Intro | Hoa bằng lăng (Jimmy Nguyễn) - Mendy Nguyễn GCBMendy Nguyen
https://youtu.be/2UAfBeTtLMU


Hướng dẫn guitar | Phần 2 - HOA BẰNG LĂNG - Giang tấu và Outtro - Mendy Nguyễn
https://youtu.be/j8n7xPUCHCA


• [HƯỚNG DẪN] Hoa bằng lăng - Jimmy Nguyễn - Guitar Solo - Phần Điệp khúcHoàng Như Định14,431 views

• [HƯỚNG DẪN] Hoa bằng lăng - Jimmy Nguyễn - Guitar Solo - Phần IntroHoàng Như Định22,859 views

Hoa bằng lăng - Solo Guitar Văn Anh (Test đàn C#400 gắn EQ trên loa AGA)
https://youtu.be/eIKW6y8Azxw


Thursday, July 25, 2019

Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” kỳ 12

Đại Nhạc Hội ‘Cám Ơn Anh’ kỳ 12 quyên được $286,607



Lâm Hoài Thạch/Người Việt





=======================

Rừng cờ vàng phất phới trên tay của hàng ngàn khán giả đến xem Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” kỳ 12. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Đến 7 giờ tối Chủ Nhật, 21 Tháng Bảy, 2019, ban tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” kỳ 12 công bố, tổng cộng hiện kim và ngân phiếu đã lên được $286,607. Đó là con số ban đầu được ghi nhận, ban tổ chức vẫn tiếp tục nhận đóng góp của đồng hương sau đại nhạc hội, sau đó tổng kết, và sẽ có một buổi họp báo công bố tổng số tiền.

Chưa đến 12 giờ trưa nhưng sân trường Los Amigos High School, Fountain Valley, đã đông kín người đến dự để yểm trợ cho chương trình văn nghệ có ý nghĩa này do Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, Trung Tâm Điều Hợp Tây Nam Hoa Kỳ/ Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại tổ chức.

Một sân khấu rộng lớn sừng sững giữa trưa Hè nắng chói chang của Little Saigon, thủ đô tinh thần của người Việt tị nạn Cộng Sản, hàng ngàn con tim với tấm lòng vàng của đồng hương trên đất khách, và hàng trăm các thành viên trong ban tổ chức trong tinh thần biết ơn những thương binh VNCH đang sống lây lất tại quê nhà.


Từ trái, MC Quốc Thái, bà Nguyễn Thanh Thủy, bà Khúc Minh Thơ, Bác Sĩ Phạm Đức Vượng, Nhạc Sĩ Huỳnh Công Ánh và ông Thái Hóa Lộc. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Những tấm lòng vàng đó; những tinh thần đó đã khơi sắc tình người đồng hương hải ngoại; tình chiến hữu “Huynh Đệ Chi Binh” để xoa dịu phần nào những nỗi đau thương của các cựu thương phế binh VNCH còn trong nước qua chương trình Ðại Nhạc Hội Ngoài Trời “Cám Ơn Anh” kỳ 12.

Bên cạnh đó là bàn thờ của cố Trung Tá Không Quân Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, người đã sáng lập cũng là cựu hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.

Bà Nguyễn Thanh Thủy, hội trưởng đương nhiệm kiêm trưởng ban tổ chức, nói: “Chúng tôi trân trọng ghi nhớ công ơn bà cố Trung Tá Không Quân Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Ngay khi đặt chân đến Hoa Kỳ, bà đã nghĩ đến những người thương phế binh và quả phụ VNCH. Chúng tôi nghĩ rằng, trên trời cao bà luôn dõi mắt quan sát việc chúng ta đang làm để giúp cho thương phế binh và quả phụ tại quê nhà.”


2


Bà Nguyễn Thanh Thủy (phải) và ông Phan Tấn Ngưu bên bàn thờ của cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Lần tổ chức này khác hơn 11 lần tổ chức trước là Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH đã cùng với Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, Trung Tâm Điều Hợp Tây Nam Hoa Kỳ/ Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và các hội cựu cựu sinh của các trường trung học Gia Long, Trưng Vương, Bưởi Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu, Lê Ngọc Hân Quốc Gia Nghĩa Tử, và nhiều cựu học sinh của các trường khác cùng các hội đoàn: Hội Hướng Đạo Tráng Niên Làng Quảng Tế, Hội Cựu Sinh Viên Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Quốc Gia Hành Chánh, và đồng hương các nơi đã nhiệt tình góp công sức vào việc tổ chức gây quỹ giúp đỡ thương phế binh và quả phụ VNCH ở quê nhà,” bà nói tiếp.

“Lòng chúng ta đang đau xót vì luôn nhớ ơn những chiến sĩ Quân Lực VNCH đã hy sinh một phần thân thể, mang thương tật suốt đời. Những quả phụ không bao giờ tìm lại được người chồng thân yêu, và người cha đáng kính của con mình. Vì thế, ban tổ chức mong ước gặt hái được một kết quả thành công tốt đẹp từ lòng hảo tâm của quý đồng hương hải ngoại trên thế giới,” trưởng ban tổ chức chia sẻ thêm.

88
Phần trình diễn của Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi CLB Tình Nghệ Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Những vị khách đặc biệt từ phương xa đến dự có bà Khúc Minh Thơ, sáng lập Hội H.O., từ Virginia về. “Thực sự tôi rất yếu, nhưng tôi vẫn cố gắng đến đây cũng như đồng bào và quan khách để ủng hộ chương trình đại nhạc hội này. Sự đông đảo của quý vị đã làm tôi xúc động và vui mừng. Tôi không biết nói gì hơn là xin quý vị hãy tiếp tục ủng hộ chương trình này để giúp cho các anh em thương phế bình còn sống lây lất tại quê nhà,” bà nói.

Nhạc Sĩ Huỳnh Công Ánh, từ Louisiana về, cũng có lời chia sẻ: “Hôm nay, chúng tôi rất vui và hãnh diện đã được đồng hành với ban tổ chức của Ðại Nhạc Hội Ngoài Trời ‘Cám Ơn Anh’ lần thứ 12. Những người thương phế binh đã bỏ máu xương mình cho tổ quốc, họ không thể nào bị lãng quên. Sự hiện diện đông đảo của đồng hương hôm nay là bằng chúng hùng hồn nhất để chứng tỏ rằng, chúng ta luôn luôn tiếp tục ủng hộ những người đã bỏ máu xương mình cho tổ quốc, trong đó có các anh thương phế binh ở quê nhà.”



Phần trình diễn của Ban The Soldiers. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Trong khi đó, ông Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt Dallas, tỏ bày: “Chúng tôi có mặt hôm nay với một lý do rất đơn giàn là, vì chúng tôi là những người đã sáng lập ‘Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chánh Trị’ thì chúng tôi không quên bạn tù; không bao giờ quên những đồng bào đau khổ, mà những anh em thương phế binh là những người đau khổ và khốn nạn nhất dưới chế độ Cộng Sản. Chúng tôi mong rằng, tất cả những người hiện diện ở đây cũng như những người không có mặt nên một lòng hướng về thương phế binh VNCH, và cùng đoàn kết hơn nữa cho tinh thần và sự đau khổ của những anh em cựu chiến binh tại quê nhà được vơi đi trong những ngày cuối đời của họ.”

Cũng là vị khách đến từ phương xa, Bác Sĩ Phạm Đức Vượng, cư dân San Jose, tâm tình: “Tám năm trong trại tù Cộng Sản cho đến bây giờ thì tôi không nghĩ rằng, chúng tôi được đứng gần người mà chúng tôi rất ngưỡng mộ. Người đó đã bỏ rất nhiều công sức cho tất cả những anh em được định cư tại Hoa Kỳ qua diện H.O., và tôi cùng gia đình đã được sang đây theo diện H.O. 14. Trước mặt mọi người, tôi xin được đại diện cho các anh em H.O. đã từng là tù nhân của Cộng Sản thành thật cám ơn chị Khúc Minh Thơ, và cám ơn tất cả quý vị đã đến đây để cùng chia sẻ những khó khăn của những anh em thương phế binh còn ở lại quê nhà. Chúng ta, mỗi người một bàn tay cùng nghĩ về các chiến sĩ đã hy sinh một phần thân thể cho quốc gia dân tộc.”





Ban Tù Ca Xuân Điềm trình diễn trong Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh” kỳ 12. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Trong số các dân cử đến dự, Thị Trưởng Westminster Trí Tạ nói: “Hôm nay, chúng tôi rất vinh dự được có mặt trong Ðại Nhạc Hội Ngoài Trời ‘Cám Ơn Anh’ kỳ 12 theo lời mời của ban tổ chức. Đây là dịp cho chúng ta thấy được sự đoàn kết của tập thể cộng đồng người Việt tại hải ngoại lúc nào cũng nhớ đến những thương phế binh VNCH còn trong nước. Chúng tôi xin ca ngợi sự đóng góp công sức của các thành viên trong ban tổ chức và nghĩa cử cao đẹp của tất cả đồng hương trên thế giới.”

Một trong số đồng hương đến từ phương xa, bà Trần Thị Kim Oanh, cư dân Arizona, ngậm ngùi chia sẻ: “Tôi là cựu học sinh của Quốc Gia Nghĩa Tử và trường Văn Hóa Quân Đội, vì bố tôi, anh và em trai của tôi đều là cựu chiến sĩ trong Quân Lực VNCH, và cũng có người đã ngã gục tại chiến trường miền Nam. Vì thế đối với tôi, các thương phế binh VNCH thì chúng ta còn một món nợ ân tình mà không biết đến bao giờ thì chúng ta phải trả cho hết được.”

Bác Sĩ Bích Liên mang thùng quyên góp dưới khán giả. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Trên 60 ca nghệ sĩ đến đóng góp tiếng hát của họ trong chương trình văn nghệ này, trong đó ca sĩ Hoàng Anh Thư đã thố lộ tâm tình: “Hôm nay tôi rất vui và hân hạnh được đóng góp tiếng hát của mình trong chương trình đại nhạc hội để giúp cho các chú bác thương phế binh còn ở tại quê nhà, vì họ là ân nhân của đồng bào miền Nam. Vì thế, bổn phận của những người Việt xa quê hương phải ủng hộ chương trình ca nhạc đầy ý nghĩa này.”

Đến 7 giờ tối, các ca sĩ, nghệ sĩ, các thành viên trong ban tổ chức đồng ca bài “Việt Nam, Việt Nam” của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Trong lúc này, một rừng cờ vàng phất phới trên tay của hàng ngàn khán giả, và họ cùng cất tiếng hát: “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời, Việt Nam hai tiếng nói trên vành môi, Việt Nam nước tôi,…”



https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-8-600x418.jpg 600w, 768w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-8-100x70.jpg 100w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-8-696x484.jpg 696w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-8-1068x743.jpg 1068w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-8-604x420.jpg 604w" sizes="(max-width: 1920px) 100vw, 1920px" />
Những đoàn thể trẻ đi bán nước uống gây quỹ cho ban tổ chức. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ban tổ chức cám ơn tất cả những thành viên trong ban tổ chức cũng như những đoàn thể, những ca nghệ sĩ, những sự đóng góp hiện kim và ngân phiếu của đồng hương tại hải ngoại,…, để cho Ðại Nhạc Hội Ngoài Trời “Cám Ơn Anh” kỳ 12 được thành công tốt đẹp.

Đặc biệt, nhà tỷ phú Hoàng Kiều ủng hộ ban tổ chức $50,000, và Bác Sĩ Michael Đào $20,000.

Ban tổ chức cho hay, mọi quyên góp vẫn còn đang tiếp tục, xin gọi ban tổ chức Ðại Nhạc Hội Ngoài Trời “Cám Ơn Anh” kỳ 12 qua số điện thoại 1 (888) 754-8899. (Lâm Hoài Thạch)

srcset="https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3.jpg 1920w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-600x447.jpg 600w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-768x572.jpg 768w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-80x60.jpg 80w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-265x198.jpg 265w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-485x360.jpg 485w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-696x519.jpg 696w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-1068x796.jpg 1068w, https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2019/07/CCB-Dai-nhac-hoi-Cam-On-Anh-12-3-564x420.jpg 564w" sizes="(max-width: 1920px) 100vw, 1920px" /> “MỐI RÀNG BUỘC MẠNH NHẤT CỦA NGƯỜI QUÂN NHÂN LÀ LỜI THỀ TRUNG TÍN VÀ SỐNG CHẾT VỚI LÁ CỜ”

Đại Nhạc Hội ‘Cám Ơn Anh’ kỳ 12DAI NHAC HOI CAM ON ANH
10



Hình ảnh trong Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh Người Thương Binh VNCH Kỳ 12.

Fountain Valley, Nam California (Bình Sa)- - Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa Kỳ 12 -2019 đã được tổ chức tại Trường Trung Học Los Amigos, Fountain Valley, vào lúc 12 giờ trưa Chủ Nhật 21 tháng 7 năm 2019 với sự tham dự của hàng ngàn đồng hương, nhiều người về từ các Tiểu Bang xa.

Hiện diện trong lúc khai mạc có qúy vị đại diện Hội Đồng Liên Tôn, một số qúy vị dân cử, đại diện dân cử Liên Bang, Tiểu Bang, Địa Hạt, Thành Phố, qúy vị đại diện các Đảng phái đấu tranh, Hội Đoàn, Đoàn Thể, các hội đồng hương, Cộng Đồng, qúy niên trưởng, qúy cơ quan truyền thông, đặc biệt có rất đông các Trưởng Niên trong phong trào Hướng Đạo Việt Nam Hải Ngoại.

Đại Nhạc Hội Kỳ 12 do Hội HO. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Qủa Phụ Việt Nam Cộng Hòa, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, Tập Thể Chiến Sĩ Tây Nam Hoa Kỳ cùng sự hợp tác của nhiều hội đoàn và các cơ quan truyền thông, báo chí hải ngoại cùng với sự tham gia của nhiều ca nhạc sĩ, MC… các ban hợp ca của các binh chủng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Ban Tù Ca Xuân Điềm, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, Đoàn Trống Thiên Ân, Ban Nhạc Moonflower, trúc Sinh, Anh Tài, The Soldiers.

Chương trình văn nghệ trực tiếp truyền hình do Đạo diễn Phạm Hợp và Nguyễn Ngọc Cang.

Điều hợp chương trình do các MC. Thanh Tùng, Đỗ Thanh, Hoàng Tuấn, Vy Lan, Jullie Trần, Thúy Hằng và rất nhiều MC tên tuổi trong làng văn nghệ Nam California,

Điều hợp chương trình khai mạc do Không Quân Phạm Đình Khuông và Mũ Xanh Nguyễn Phục Hưng.

Nghi thức khai mạc theo lễ nghi quân cách do toán Hầu Kỳ Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California phụ trách.

Trước khi lễ chào cờ bắt đầu, Đoàn Trống Thiên Ân đã trình diễn màng trống thật xuất sắc đã được đồng hương tán thưởng những tràng pháo tay thật lớn.

Tiếp theo, nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, phút mặc niệm. (Trong phút mạc niệm nhiều đồng hương cũng đã đến trước bàn thờ bên cạnh sân khấu có di ảnh cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Qủa Phụ Việt Nam Cộng Hòa, để đốt nhang tưởng nhớ đến Bà một người đã gắn liền nhiều năm với chương trình cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH.)

Tiếp theo Ban Hợp Ca Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California hợp ca bản “Xuất Quân”

Sau đó, cựu Thiếu Tá Cảnh sát Quốc Gia Bà Nguyễn Thanh Thủy, Trưởng Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH Kỳ 12 lên tuyên bố khai mạc Đại nhạc hội Cám Ơn Anh Kỳ 12, Bà nói: " Tôi xin thay mặt Hội HO Cứu Trợ TPB & QP/VNCH, thay mặt Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh Kỳ12” Hân hoan chào đón quý vị ở đây, và đồng hương khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, Úc Châu, Canada và các nước trên toàn thế giới đang theo dõi chương trình trên đài truyền hình từ HD Media TV.

Bà tiếp: “Chúng tôi rất trân trọng ghi nhớ công ơn Bà Cố Trung Tá không Quân Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Ngay khi đặt chân đến Hoa Kỳ, Bà đã nghĩ đến Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH. Chúng tôi nghĩ rằng, trên trời cao Bà luôn dõi mắt quan sát việc chúng ta làm giúp cho TPB và Qủa Phụ tại quê nhà.”

Bà tiếp: “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 12 nầy khác hơn 11 lần tổ chức trước, kỳ 12nầy hội HO cứu trợ TPB và Qủa Phụ VNCH cùng với Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Trung Tâm Tây Nam Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, Hội cựu học sinh Trường Trung Học Gia Long, Trưng Vương, Bưởi Chu Văn An, Trung Học Quốc Gia Nghĩa Tử và nhiều cựu học sinh các trường trung Học khác. Hướng Đạo Trưởng Niên, Hội cựu sinh viên Đại Học Đà Lạt, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, và đồng hương khắp nơi đã nhiệt tình góp công sức vào việc tổ chức gây quỹ cho thương phế binh và quả phụ tại quê nhà.”

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 12 nầy Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH và ban tổ chức chỉ có 2 tháng để hoàn tất mọi công việc. Nhờ có Thiện nguyện viên Nguyễn Ngọc Cang và Đạo diễn Phạm Hợp đã tích cực hợp tác với hội HO cứu trợ TPB và Qủa Phụ VNCH trong tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm đối với anh chị em thương binh và qủa phụ VNCH đang còn sống khốn khổ tại quê nhà nên mọi công việc đã được hoàn tất.

Ban tổ chức xin tri ân tất cả Ca Nhạc Sĩ, MC đã hoan hỷ nhận lời đem tiếng nói, lời ca truyền đi khắp bốn phương kể cả Việt Nam để tất cả TPB và QPVNCH được chút an ủi trong những ngày cuối đời và có một ít quà chia xẻ với gia đình họ trong lúc khốn khó.

Thay mặt ban tổ chức chân thành cảm ơn tất cả quý vị hiện diện đang có mặt và quý đồng hương đang xem chương trình ĐNH Cám Ơn Anh Người Thương Binh Kỳ 12 qua nhiều đài truyền hình , Facebook, Youtube… Lòng chúng ta đang đau xót vì luôn nhớ ơn những chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh một phần thân thể, mang thương tật suốt đời. Những quả phụ không bao giờ tìm lại được người chồng thân yêu và người cha đáng kính của con mình…

Để bắt đầu cho chương trình gây quỹ, Ban tổ chức mời Bác Sĩ Micheal Đào lên sân khấu trao cho ban tổ chức tấm chi phiếu $20,000.

Chương trình văn nghệ tiếp tục với các ban hợp ca thuộc các quân binh chủng QLVNCH, Ban Tù Ca Xuân Điềm, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và rất đông anh chị em nghệ sĩ lần lược trình diễn.

Mở đầu Bác Sĩ, Ca Sĩ Bích Liên lên hát bản “tình ca Phạm Duy”, Thu Nga-Huy An qua bản “Giữa Trời Tôi Hát Tên Anh” của Duy Lynk, Đặng Thế Luân qua bản “Người Thương Binh” của Anh Bằng, Hồ Hoàng Yến qua bản “Sài Gòn Vĩnh Biệt” của Nam Lộc, Bùi Phát qua bản “Một Mai Giã Từ Vũ Khí” của Trịnh Lâm Ngân… tiếp theo các nghệ sĩ như: Đặng Thế Luân, Hồ Hoàng Yến, Gia Huy, Hoàng Anh Thư, Phillip Huy, Diệp Thanh Thanh, Huy An, Thúy An, Tuấn Đạt, Thanh Thủy, Trần Ngọc, Dạ Lan, Tuyết Nhung, Lan Anh, Carol Kim, Quốc Anh, Mỹ Lan, Lê Toàn, Lilian, Mai Lệ Huyền, Tuấn Châu, Bé Thụy Ân, Trung Nghĩa, Vân Khanh, Tuấn Dũng, Hải Âu, và rất nhiều ca sĩ tham dư, những ca sĩ đều hát những bản nhạc liên quan đến người lính Việt Nam Cộng Hòa, những bản tình ca về quê hương…

Xen lẫn chương trình văn nghệ Ban tổ chức cũng đã lần lược đọc tên những mạnh thường quân, những ân nhân ủng hộ trong đó có $20,000 của BS Micheal Đào, $5,000 của Trưởng Lão HT. Thích Chơn Thành, Viện Chủ Chùa Liên Hoa, $50,000  của Tỹ Phú Hoàng Kiều, Hội Võ Bị Đà Lạt $31,000, Hội Cảnh Sát Quốc Gia $22,000 và nhiều hội đoàn khác cũng như đồng hương khắp nơi chưa được thông báo.

Kết qủa sơ khởi cho biết số tiền thu được trong ngày là $349,571

Kết qủa chính thức sẽ được thông báo sau.

Kết thúc chương trình văn nghệ vào lúc 7 giờ tối, trước khi chia tay, tất cả cùng hát bản “Việt Nam Việt Nam.”

Theo ban tổ chức cho biết, sau ngày Đại Nhạc Hội, ban tổ chức vẫn tiếp tục nhận đóng góp của đồng hương từ khắp nơi gởi về, chi phiếu đóng góp xin ghi: ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12 và gởi về: Hội H.O. Cứu Trợ TPB và QP/VNCH- P.O BOX 25554, Santa Ana, CA 92799.

Kết qủa chính thức sẽ có một buổi họp báo công bố tổng số tiền thu được.

Mọi chi tiết liên lạc đóng góp: xin gọi: (714) 837-5998, (714) 371-7967, (714) 721-0758.



https://vietbao.com/a296754/tung-bung-dai-nhac-hoi-cam-on-anh-nguoi-thuong-binh-vnch-ky-12






9



1


2


3


4


5


6


7

Wednesday, July 24, 2019

Hát Cho Người Lính Nằm Xuống -Những Bản Hùng Ca Bi Tráng

Những bản hùng ca bi tráng
Cám Ơn Anh
https://youtu.be/-zHrdyQcipI



1 Đại Úy Pháo Binh Dù Nguyễn Văn Đương
https://www.youtube.com/embed/CFIiWFtxclM

https://youtu.be/Juf048ZAR1c



2 https://youtu.be/GI7GHaPI2Tc



3 https://youtu.be/q3Jk7LoBE34




4 https://youtu.be/Y7cx_Dj0amM




5 Đại Tá Lưu Kim Cương
https://youtu.be/d6HLC1Q7Fpo



6 Vòng Hoa Cho Trần Thế Vinh
https://youtu.be/h4kj80dECTQ



Bai Vinh Thăng Cho Một Loài Chim - Trần Thế Vinh
https://youtu.be/3CAWQGYlFn4
=======================================



Chiến sĩ vô danh - Biệt Kích Nha Kỹ thuật.
ARVN Commando

https://youtu.be/HuXyFnMZWJw


Vòng hoa thương tưởng- Biệt Kích Nha Kỹ thuật.
ARVN Commando

https://youtu.be/-MyCiKBTTkY


HỒN MA BIÊN GIỚI
HOANG PHUONG NGUYEN

https://youtu.be/abQ3LYtHwSY





Tình Cha Vẫn Mãi Theo Con

Hùng Biên

Trong những tình cảm thiêng liêng của con người, có phải tình phụ tử là mối tình cao quý nhất, mà người đời đã gọi là “nghĩa mẹ, tình cha”? Cái tình cha mà thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã không có trong tuổi thơ, vì bị chế độ Cộng Sản (CS) vô thần cướp đoạt. Cái tình cha ấy đã luôn là nỗi khắc khoải mong chờ trong những năm tháng tuổi thơ của anh em tôi khi không có cha bên cạnh. Cái tình cha đã là món quà mà anh em tôi đã trân quý đón nhận từ người cha sau những năm dài bị giam cầm trong ngục tù CS nơi rừng thiêng nước độc ở Miền Bắc (MB) xa xôi. Và cái tình cha ấy sẽ mãi là hành trang và là hoài niệm theo bước anh em tôi trong suốt cuộc đời này, khi cha tôi đã mãi xa mẹ và anh em tôi gần hai năm qua.

Tình cha thiêng liêng đã được ca ngợi trong tập tục văn hóa của Hoa Kỳ khi chọn ngày Chủ Nhật thứ ba của tháng 6 làm ngày Lễ Cha. Trong suốt những năm dài của kiếp tha hương nơi đất khách quê người, anh em tôi đã có hạnh phúc nghĩ tới, chúc sức khỏe và gởi đến cha mình những món quà vào những ngày Lễ Cha. Và những ngày gần đây, trước ngày lễ Hiền Phụ của năm 2015, trong tôi có những nỗi niềm thương nhớ ba thật nhiều, cho dù tôi đã nhớ về ông hầu như trong từng ngày tháng qua. Tôi vẫn không ngờ ông đã ra đi thật xa và về ở một cõi vĩnh hằng nào đó. Có những lúc đăm chiêu trong nỗi thương nhớ và hồi tưởng về ông, tôi đã không khéo dấu những cảm xúc khi nghe hai cô con gái nhỏ hỏi: – Ba nhớ ông nội hả ba? – Con muốn ông nội vẫn sống với ba và tụi con. Những câu nói ngây thơ và chân tình của các bé đã đưa tôi về với thực tại và cho tôi thấy được tình yêu của các cháu dành cho ba tôi, một ông nội hiền từ và luôn vui đùa với chúng.

Đêm nay, trong giấc ngủ chập chờn, tôi chợt tỉnh giấc giữa đêm khuya tĩnh lặng với những cảm xúc thương nhớ ba thật nhiều. Tôi nghĩ đến sáng mai, ngày lễ Cha, mà những dòng lệ đã nhẹ nhàng lăn dài qua khóe mắt. Lại thêm một năm nữa, anh em tôi đã không còn cơ hội để thương chúc sức khỏe hay chung vui với ba mình. Trong đêm dài, tôi đang hồi nhớ lại nhiều kỷ niệm với ông, hồi nhớ lại những lời dạy chỉ bảo của ông và những câu chuyện về đời lính, hay năm tháng trong ngục tù CS. Và qua những hồi nhớ này, tôi nhìn lại hết những tình cảm của ông dành cho quê hương Việt Nam (VN), cho những chiến hữu của ông, cho gia đình người thân, và cho những đứa con của ông. Tôi xin mượn những dòng chữ để ghi lại những tình cảm của ông quyện vào cái tình cha mà ông đã vun bồi cho anh em tôi.

Như các bạn trẻ đồng cảnh, anh em tôi sinh ra trong thời gian của cuộc chiến Việt Nam. Anh em tôi đã chưa thật sự đủ lớn để cảm nhận được sự phồn vinh và thanh bình của Miền Nam Việt Nam (MNVN) và chưa thật sự đón nhận đầy đủ tình yêu thương dạy dỗ của cha mình, thì ngày đen tối 30-4-1975 của cả dân tộc VN ập tới, khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) xua quân cưỡng chiếm MNVN. Từ ngày ấy, anh em tôi đã mãi không còn nhìn thấy ba bên cạnh, vì ba tôi cũng như hàng trăm ngàn Quân – Dân – Cán – Chính của miền Nam bị CSVN giam cầm trong các nhà tù, những địa ngục của trần gian, từ Nam ra Bắc.

Tuổi thơ lớn lên trong nỗi nhục nhằn cơ cực bên cạnh tình yêu thương và chăm sóc của mẹ, anh em tôi sớm nhận ra mình đang thiếu vắng tình cha. Tôi đã luôn khao khát mong chờ ngày cha về đoàn tụ với gia đình, để được cha yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ. Ngày vui đó đã bất ngờ đến với mẹ và anh em tôi. Sau 10 năm tù CS, ba tôi được thả về xum họp với gia đình. Và từ ngày đó, anh em tôi thật sự biết tình cha là như thế nào. Ngoài phụ giúp mẹ tôi trong công việc buôn bán, ba đã dành hết thời gian gần gũi và chỉ dạy anh em tôi. Tôi quá đỗi ngỡ ngàng nhận ra được nhiều lời chỉ dạy mới lạ từ ba mà tôi không bao giờ được nghe nói đến trong nhà trường XNCH. Ông cho anh em tôi các bài học vỡ lòng qua những khẩu hiệu trong học đường của VNCH trước đây như: “Tiên học lễ, hậu học văn.” Đó là tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ hay bậc trưởng thượng và lễ phép trong cung cách ăn nói với người xung quanh.

Ba tôi còn cho chúng tôi thấy được nền giáo dục VNCH là nền giáo dục nhân bản, đã giáo dục công dân MNVN những đức tính tốt mà gói gọn qua cụm từ ngữ “nhân-lễ-nghĩa-trí-tín”. Ông đã giải thích từng chữ và dạy cho anh em tôi. Ngoài ra, ông đã uốn nắn anh em tôi đi vào nề nếp qua từng việc nhỏ như giữ gìn vệ sinh, ăn ngủ đúng giờ và đi thưa về trình. Với kiến thức Anh ngữ có được từ học đường và từ nhiều năm giao tiếp với các sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ, ba tôi đã lấy đó làm vốn để dạy kèm môn học Anh ngữ cho anh em tôi. Ba tôi rất say mê đọc sách Anh ngữ và nhất là ông thường nghe các câu chuyện Anh ngữ trên đài VOA. Ngày hôm sau, ông tìm mua bản copy, đọc và dịch nghĩa để dạy Anh ngữ cho chúng tôi.

Anh em tôi như là những đứa trẻ đang khát sữa, mà những dòng sữa ấy là những tình cha mà anh em tôi đã trông chờ trong suốt 10 năm dài qua. Và khi những dòng sữa ấy, được ba tôi đem đến, anh em tôi vui mừng đón nhận để nuôi dưỡng cho thân thể và tinh thần khỏe và lành mạnh hơn. Ba tôi đã cho tôi cảm giác ông là người cha và cũng là người thầy dìu dắt anh em tôi bước đi và đi đúng trong cuộc sống này. Ông luôn ân cần chỉ dạy chúng tôi những điều mới lạ và trả lời các câu hỏi của anh em tôi. Ông đã giúp cho tôi hiểu nhiều hơn về chính thể Quốc Gia, về quân binh chủng VNCH và về binh chủng LLĐB và Biệt Động Quân (BĐQ) mà ông đã gắn liền cả một đời binh nghiệp với gót giày sô đã in đậm trên khắp bốn vùng chiến thuật. Tôi luôn say mê nghe ông kể về đời quân ngũ của ông qua các trại LLĐB và các chiến trường. Ông đã cho tôi hiểu những cái đặc biệt của binh chủng LLĐB, từ cách hành quân, xâm nhập và phá hoại trong lòng địch. Ví dụ như những cách nghi binh đánh lừa địch, như bắn pháo binh một hướng rồi hành quân theo hướng khác để tìm chạm địch hay cách thức ngụy trang thả người nằm lại cho những điểm đã đi qua.

Năm tháng dần trôi, ba tôi đã quen dần với cuộc sống gia đình trong cương vị là người chồng, người cha, nhưng ông luôn mãi là người xa lạ trong cái xã hội CS nhiễu nhương với nhiều điều chướng tai, gai mắt. Cái XHCN đã và đang băng hoại luân thường đạo lý của dân tộc VN. Cướp giựt, đàng điếm và đâm chém diễn ra khắp nơi. Trong cái XHCN, những kẻ CS độc tài theo chủ thuyết vô thần Mac-Lê đang cai trị, cướp bóc, đày ải và giết hại chính dân tộc VN cùng dòng máu với họ. Nhìn về cái XHCN ấy và nhìn về gia đình với tương lai mịt mù cho con cái, ông luôn mang tâm trạng u buồn cho đất nước và dân tộc trên con đường bại vong.

Có những lúc buồn, ba tôi ngồi trầm ngâm khảy đàn guitar cổ nhạc, để mượn cung đàn gởi gấm nỗi buồn vào trong đó. Ông thường đàn và ca những bài cổ nhạc của MNVN trước đây như: Tình Anh Bán Chiếu, Ông Lão Chèo Đò, hay Thằng Ngốc Bán Than. Với làn hơi ca mùi, vóc dáng cao ráo và niềm đam mê, ba tôi đã có thể đi theo sở thích của mình để trở thành một nghệ sĩ cổ nhạc. Nhưng ông đã không làm thế. Như các lớp trai thời chiến, nhìn thấy đất nước điêu linh qua lửa khói chiến tranh mà CSBV đang gieo rắc khắp nơi ở MNVN, ba tôi đã gạt qua những đam mê, tình nguyện gia nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 14. Ông đã đến với quân đội cùng với các anh và các cháu của mình, cầm súng bảo vệ quê hương miền Nam yêu dấu trước gót giày xâm lăng của CSBV.

Ba tôi thường đem những câu chuyện trong Sử Việt, với những anh hùng dân tộc chống quân xâm lăng từ phương Bắc, kể cho chúng tôi nghe. Qua các câu chuyện, ông muốn cho anh em tôi nhìn thấy những hình ảnh nói lên tình cảm yêu thương dân tộc VN của các tiền nhân như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ . v…v… và v…v…Trong các hình ảnh ấy, tôi thấy được hình ảnh của thế hệ ba tôi, những người lính VNCH, cũng đã cầm súng chống lại sự xâm lăng của CSBV, chư hầu của CS Quốc Tế. Ông thường đọc cho chúng tôi nghe những câu nói của các vị anh hùng dân tộc, như bài “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý thường Kiệt. Nhưng ông tâm đắc nhất là câu nói của Nguyễn Công Trứ: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông.”

Các câu thơ ấy nói lên cái chí khí của người trai sống có lý tưởng cho đất nước và không thẹn với giang sơn gấm vóc, mà ông cha đã ngàn đời gìn giữ. Cho dù ba tôi không nói ra, tôi đã nhìn thấy được cái lý tưởng sống cho dân tộc, cho đất nước ở trong ông.

Sống gần bên ba, tôi thường được nghe ông kể nhiều về những câu chuyện của đời lính kiêu hùng của ông, một người lính tác chiến qua các binh chủng thiện chiến LLĐB rồi BĐQ của QLVNCH, quanh năm hành quân ở biên thùy. Qua những câu chuyện đó, ông đã chỉ dạy cho anh em chúng tôi những đức tính hy sinh, chịu đựng gian khổ, trau dồi kinh nghiệm của ông và các chiến hữu trên các chiến trường lửa khói qua các địa
danh như Ashau, A Lưới, Bù Đốp, Tống Lê Chân, KaTum, Đức Huệ, An Lộc, Bình Đê… v…v… và v…v. Lồng trong các câu chuyện ấy, ông đã cho anh em tôi thấy cái tình lính, mà ông đã dành cho các chiến hữu của ông. Theo lời ông kể, khi còn ở C1 LLĐB, nhìn thấy các bạn thuộc cấp và đồng cấp của mình bị hà hiếp bởi viên sĩ quan ỷ thế cậy quyền, ông đã can đảm đứng ra khiển trách vị sĩ quan này. Ông đã dạy chúng tôi rằng, “Mình không nên ăn hiếp người yếu hoặc thấp nhỏ hơn mình. Ngược lại, nên bảo vệ cho họ.”

Chính vì tính tình bộc trực và khí khái này, ông luôn là chỗ dựa an toàn cho các chiến hữu và bạn hữu của ông từ trong quân ngũ, trong ngục tù CS và ra tới hải ngoại này. Trong ngục tù CS, ông từng quát vào mặt người tù làm ăng ten cho CS trong khi những bạn cùng phòng tìm cách tránh né người ăng ten này. Trong sinh hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG), ông đã hai lần đứng lên bênh vực các chú bác trong hai lần sinh hoạt của Cộng Đồng trước những quậy phá thiếu ý thức của một nhóm người, chịu sự chi phối của đảng phái cho mưu đồ chính trị phe nhóm. Ba tôi đã cho anh em tôi thấy được tấm gương của con người có cái dũng, luôn bảo vệ người yếu thế trước những xấu xa của thói đời.

Nhưng đối với các chiến hữu, bạn hữu và những người thân, ba tôi luôn thương mến họ. Ông luôn tỏ ra nhún nhường, ân cần và nhã nhặn trong lời ăn tiếng nói, không hơn thua hay tranh giành thiệt hơn với ai. Chính vì những đức tình này, nhiều người bạn và người thân gia đình thường nói với tôi: “Ba con rất hiền và được nhiều anh em thương mến nhưng ba con rất cương trực chống lại kẻ thù CS và tay sai CS.”

Qua những cử chỉ và lời nói, ba tôi đã dạy cho anh em cái tính hiền từ và hòa nhã với mọi người thân quen. Ba tôi đã khéo đem cái tình lính của ông lồng vào trong bài học của cái tình cha để dạy anh em tôi. Ông đã dạy cho anh em tôi lòng vị tha và thương yêu các chiến hữu của mình. Với cương vị trưởng trại qua các trại LLĐB của QLVNCH, ông đã trực tiếp chỉ huy các người lính dân sự chiến đấu (CIDG) mà đa số là người dân tộc thiểu số như người thượng, nhưng trong đó cũng có những người lính là những thanh niên ngang tàng quậy phá của MN. Họ đến với lính, ngoài tình yêu quê hương đất nước, họ còn có nhiều lý do khác nhau, mà trong đó là cái hùng cái dũng của binh chủng này, lập nhiều chiến công nơi miền chiến tuyến. Vì thế, ba tôi cho biết là không dễ chỉ huy những người lính này, những người lính gan lì, đã xem nhẹ sự sống còn cho sự tự do và dân chủ của MNVN. Ông đã dùng kỷ cương quân đội để chỉ huy bên cạnh sự quan tâm và chăm lo cho binh lính và gia đình của họ. Ông sẵn sàng bỏ qua hay làm lơ những lỗi lầm nhỏ của họ nếu lần đầu vi phạm. Ông tạo ra cảm giác thương yêu nhau và bảo vệ cho nhau từ các sĩ quan, hạ sĩ quan, cho tới binh sĩ các cấp trong trại. Và chính vì thế, những người lính sẽ sống còn với ông với đơn vị, để cùng nhau lập nên chiến công, chận đứng bước chân xâm lược của đoàn quân sinh Bắc tử Nam. Ông kể, có lần một sĩ quan LLĐB trong trại của ông vì quá nhớ nhà, đã trốn đơn vị về thăm vợ con. Ba tôi cho biết tội đào ngũ bỏ đơn vị nơi miền chiến tuyến là rất nặng. Nhưng ba tôi đã hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của người sĩ quan này. Thay vì đưa sự việc ra tòa án binh, ba tôi chỉ khiển trách và phạt nhẹ người sĩ quan đó để làm gương trước đơn vị.

Ba tôi cũng thường dạy anh em tôi phải sống rộng rãi và thương yêu với tha nhân. Ba tôi hay nói, “Ai cho ba ăn một lần, ba cho ăn lại mười lần”. Câu nói nghe mộc mạc nhưng hàm chứa một nhân cách sống của ông đó là cho nhiều hơn nhận. Theo lời ông kể, khi còn ở C1 LLĐB, có những năm tháng hành quân không ngày về phép. Có lần, người bạn đồng cấp của ông được về phép thăm mẹ bị bệnh. Người bạn ấy đã tâm sự với ông:

-Đường ơi, tao được phép về thăm mẹ tao, đang bị bệnh. Tao cần một số tiền, giúp cho mẹ tao. Mày có thể cho tao mượn không? Nghe lời tâm sự của bạn mình và hình dung ra niềm vui của người mẹ gặp lại con sau bao tháng ngày dài thương nhớ, ba tôi liền nói:

-Tao còn độc thân như mày, không vợ không con, tao cũng không xài được tiền lương ở vùng rừng núi hẻo lánh này. Thôi mày cầm 3 tháng lương của tao về giúp cho mẹ mày. Từ từ rồi trả lại tao. Nhưng chiến tranh ngày một khốc liệt ở khắp nơi, nên ông và người bạn đã đi qua nhiều chiến trường lớn và mãi không hề gặp lại cho tới sau ngày rã ngũ đi tù CS.

Với cương vị trưởng trại LLĐB, có những quyền lợi gì, ông đều chia sẻ với các chiến hữu và thượng cấp của mình. Mỗi khi đơn vị lập chiến công được khen thưởng với nhiều tặng phẩm, ba tôi luôn chia sẽ số tặng phẩm này với chiến hữu các cấp. Ông cho tôi biết đời lính, sống nay chết mai, anh em đều cực khổ như mình, nên chia sẻ được vui buồn với họ là việc ông nên làm.

Ông yêu đời lính của ông, yêu các chiến hữu của mình, yêu chính nghĩa của người lính VNCH, bảo quốc an dân. Ông đã tình nguyện đến với quân đội, sống còn và trưởng thành với quân đội. Tình yêu lính và yêu quê hương mãi theo ông trong suốt cuộc đời, nó đi vào trong tận tiềm thức của ông. Tôi thường nghe ông kể về những giấc mơ của ông. Trong mơ, ông nhìn thấy mình đang chỉ huy đơn vị chạm súng nặng với quân thù hay nhìn thấy cùng đơn vị hành quân trên vùng rừng núi ngoại biên, tiến quân trong làn sương mù giăng kín khắp nơi.

Có phải cái tình cảm của người lính VNCH và cái tình cảm của người tù CS đã đem ông và các bạn ông lại thật gần với nhau hơn? Khi còn ở VN, có rất nhiều bạn lính VNCH và bạn tù CS đã tìm đến thăm ông hay kết bạn với ông. Khi rảnh rỗi, ông thường nhóm họp với các bạn, qua tách cà phê hay ly trà bàn luận với nhau về chuyện thời sự đang diễn ra, nói cho nhau nghe về chuyện đời quân ngũ và chuyện tù CS, hay những chuyện sẽ được cho ra đi tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ trong tương lai. Qua những người bạn cũ có và mới có của ba, tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết được rất nhiều cựu sĩ quan QLVNCH sinh sống tại vùng đất Gia Định qua các con đường Lê Quang Định, Phan Văn Trị, và Nơ Trang Long. Trong số họ, có nhiều vị từng nắm giữ những chức vụ lớn của quân đội VNCH trước đây, như cấp bậc đại tá trong quân đoàn, trong phủ Tổng Thống và trong cục Quân Y.

Tôi đã thầm tự hào là tôi đã là người con của vùng đất Gia Định này, nơi đã có nhiều chí sĩ yêu nước như Tả Quân Lê Văn Duyệt và nhất là vô số các chú bác, những người lính VNCH. Tôi thường được ba tôi dẫn đi thăm những người bạn của ông và nhờ đó tôi nhìn thấy tình lính, tình bạn tù thương yêu giữa họ. Những người con của nước Việt, đã từng khoác chiến y chống lại đoàn quân xâm lược theo chủ thuyết CS vong bản, đã hy sinh xương máu nhiều trong cuộc chiến, đã chịu nhiều năm bị giam cầm trong lao tù CS và hiện đang xây dựng lại mái ấm gia đình nhỏ bé, vun đắp lại tình chồng, tình cha. Tôi yêu quý và kính mến những người bạn, những cựu tù CSVN của ba tôi.

Ba tôi rất vui khi tìm lại được các chiến hữu của ông trong thời chinh chiến và trong số này có cả những thượng cấp của ông như bác Nguyễn Thành Chuẩn, bác Lê Tất Biên, hay bác Nguyễn Công Triệu. Có những thuộc cấp đã tìm tới thăm ba tôi và họ rất quý ba tôi như tình cảm ba tôi dành cho thượng cấp của mình. Ôi tình lính của họ thật cao đẹp và sống mãi trong họ cho dù vật đổi sao dời. Có lần ba tôi được mời tới dự tiệc chung, chia tay tiễn đưa bác Đặng Ngọc Quỳ và những người bạn đồng khóa 17 Võ Bị Đà Lạt của bác Quỳ ra đi theo diện HO. Ba tôi rất vui kể lại cho tôi nghe là trong buổi tiệc, bác Quỳ đã đứng lên giới thiệu ba tôi với các người bạn, đại ý : – Tôi xin giới thiệu với các bạn, đây là Thiếu Tá Nguyễn Minh Đường, anh là xếp của tôi, khi tôi là phụ tá trưởng trại LLĐB cho anh và anh đã giúp tôi nhiều trong những bước đường binh nghiệp. Ba tôi rất vui gặp lại bạn cũ và nghe những lời giới thiệu chân tình đó.

Trong những năm dài sống đời tỵ nạn CS tha hương nơi đất khách, ba tôi vẫn luôn thao thức nghĩ về quê hương VN. Ở nơi đó, ông đã có biết bao nhiêu kỷ niệm và hoài bão của tuổi thơ, của đời lính và kiếp tù đày. Ở nơi đó, có vô số những mảnh đời đang sống lây lất trong cảnh bần cùng đói khổ như cô nhi, quả phụ, và thương phế binh VNCH. Khi các chiến hữu LLĐB tại tiểu bang Washington tìm lại với nhau, ông và họ cùng đóng góp, kẻ ít người nhiều, để có món quà nhỏ gởi về VN cho bà quả phụ Lê Văn Ngôn. Tên tuổi của chú Ngôn đã gắn liền với chiến sử của QLVNCH khi chú đã anh hùng tử thủ trại Biệt Động Quân biên phòng Tống Lê Chân và chú đã gục chết trong ngục tù CS. Ba tôi thường ưu tư về những người thương binh của Biệt Kích hay Dân Sự Chiến Đấu, những người thương binh không có số quân và sẽ mãi không nhận được sự giúp đỡ của các hội thương phế binh VNCH tại Hoa Kỳ. Ông đã cho chúng tôi thấy được tấm lòng của ông, luôn thương nghĩ về đồng đội của ông năm xưa.

Cho dù tuổi càng cao, sức khỏe càng yếu và mang trong người nhiều căn bệnh mà trong số ấy là những căn bệnh hậu chứng của năm tháng tù đày bị lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu mặc và thiếu thuốc men, ba tôi vẫn luôn có một tinh thần vững mạnh, hăng say dấn thân trong các sinh hoạt của CĐNVQG hay các hội đoàn quân đội tại tiểu bang WA. Ông có mặt hầu hết ở các sinh hoạt, nêu cao chính nghĩa Quốc Gia qua các lễ hội hay kỷ niệm của VNCH, biểu tình chống lại sự hiện diện của CSVN tại điạ phương, có mặt trong các buổi tháo bỏ cờ máu CS và thay bằng cờ VNCH tại các công sở trường học. Ba tôi đã cùng với các chú bác trong CĐNVQG và các hội đoàn quân đội, xây dựng và bảo vệ CĐNVQG trước bàn tay dài lem luốc của tay sai CS. Bên cạnh đó, ba tôi luôn lấy những hiểu biết và khả năng của mình giúp đỡ những người thân quen, như việc ông hướng dẫn cho các chú, bác và các cụ trong hội cao niên sử dụng computer, chơi bóng bàn, hay chở các vị cao niên tới các lễ hội và các kỷ niệm VNCH được tổ chức tại các thành phố xa xôi.

Có lần tôi tâm sự với ba về những hành động không đúng của người quen, ông liền khuyên tôi nên bỏ qua và đừng bận tâm vào những chuyện nhỏ nhặt ấy. Đúng vậy, ba tôi luôn xem nhẹ những cái việc nhỏ nhặt như những tranh chấp hay bất đồng trong các tổ chức đấu tranh. Đối với ông, cái việc chung cần làm là xây dựng và bảo vệ CĐNVQG và cùng các tổ chức đấu tranh cho một VN không CS.

Khi những căn bệnh hiểm nghèo ập tới, ba tôi không hề lo sợ và sẵn sàng bước lên bàn giải phẫu. Ông luôn an nhiên và chấp nhận số mệnh của mình. Là người con Phật, ông luôn tin vào luật nhân quả của đạo Phật cho kiếp người mà ông đã đi qua. Trong cuộc chiến VN, ba tôi đã nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, thì không lẽ những cơn bệnh cuối đời sẽ mang ông đi theo nghiêp số. Với ý chí cao, ông đã vượt qua nhiều ca giải phẫu liên tiếp. Qua nhiều đêm dài chăm sóc nuôi bệnh cho ông, tôi không hề nghe ông có một tiếng than thở, cho dù trong người có những nỗi đau đớn của cơn bệnh. Cái đau về thể xác ấy sẽ chẳng là gì so với cái đau về tinh thần của ông, khi ông nhìn thấy quê hương vẫn mãi chìm đắm trong đọa đày bởi sự cai trị của loài quỷ đỏ CSVN.

Dù nằm trên giường bệnh, ông vẫn luôn nghĩ về các sinh hoạt sắp tới của CĐNVQG và các sự kiện đang xảy ra tại quê nhà khi vô số tàu cá ngư dân VN bị CSVN làm ngơ cho tàu CS Trung Quốc đâm chìm. Ông ngủ thật nhiều, nhưng khi tỉnh giấc, ông lại tiếp tục kể cho tôi nghe về kỷ niệm của ông với các bạn thời niên thiếu, với các người thân trong gia đình và với các chiến hữu trong binh chủng LLĐB và BĐQ mà ông đã gặp lại sau này. Tôi không ngờ, đó là những lần sau cùng tôi được nghe kể về các chiến hữu của ông. Không biết đã có bao nhiêu cái tên của các chú bác, mà ba tôi đã từng kể cho tôi nghe, như các chú bác: Ngô Minh Hồng, Nguyễn Khoa Lộc, Trần Ngãi, Nguyễn Chiêu Minh, Nguyễn Thanh Bình, Chiêm Thanh Hoàng, Thọ Râu, Trần Văn Quyền, Trần Văn Luận, Hồ Tăng Dư, Thập Lở … v…v… và v…v… Các chiến hữu đã cùng ba tôi sát cánh bên nhau qua các chiến trường lửa khói và có nhiều vị ông mới gặp lại sau hơn 40 năm, vào những dịp ông đi tham dự Đại Hội Biệt Đông Quân hàng năm.

Những bom đạn của quân thù, những đòn tra tấn hành hạ của nhà tù CS, và những căn bệnh qua các lần giải phẫu đã không lấy được mạng ba tôi, nhưng vì kiệt sức ông đã bị té quỵ, kết thúc cuộc đời mình, một kiếp đời nhân sinh phù du trong cõi ta bà này. Ba tôi đã đến với đời, sống trọn vẹn cho những cuộc tình với gia đình, với quê hương, với chiến hữu và với bạn hữu của ông. Phải chăng tôi đã là người con được ba tôi thương yêu và gởi gấm nhiều lời dạy và tâm sự nhất? Vào giờ phút cuối của ba tôi, trong thế giới tâm linh tôi không sao giải thích được, ba tôi hay các thiên sứ đã đến báo cho tôi biết là ba tôi sẽ mãi ra đi. Đêm hôm đó, sau khi người em báo tin là ba bị té và hôn mê, tôi đã thức trắng cả đêm buồn lo và cầu nguyện. Bổng chợt, tôi nghe một luồng gió lướt nhẹ qua bên ngoài cửa sổ thật nhanh và cây đèn ngủ bằng điện trong phòng chợt tắt. Lạ thật! Cây đèn này được mở lên mỗi đêm và không hề bị tắt ngoài lần duy nhất đó. Và tôi có linh tính là điềm xấu đã đến với ba tôi.

Trong đám tang của ba, tôi đã nhìn thấy được tình cảm của mọi người quen biết đến tiễn đưa ông lần cuối. Có những chú bác đến từ xa như bác Giang Văn Xẻn đến từ Texas và chú Lê Hữu Phúc đến từ Virginia. Rất nhiều các cô chú bác trong các CĐNVQG, các đảng phái VNCH, các hội đoàn quân đội và cảnh sát VNCH, và các chiếu hữu và thân hữu của ba tôi đã gọi phone, gởi vòng hoa, đăng báo hay đến nhà quàng phân ưu và chào tiễn biệt ba tôi lần cuối. Thật cảm động, khi anh em tôi nhìn và nghe được những lời phân ưu với những dòng nước mắt và lời nói nghẹn ngào. Những giọt nước mắt mãi rơi từ người thân trong gia đình và từ nhiều chiến hữu, thân hữu và bạn hữu của ông. Mọi người đã thương nhớ nuối tiếc cho sự ra đi của người chồng, người cha, người chiến sĩ chống cộng và người bạn. Một câu đối đã được các chú bác trong Hội Lực Lượng Đặc Biệt Tiểu Bang Washington làm và dựng lên cạnh quan tài của ông.

“Trời A Lưới Dọc Ngang Diệt Loài Quỷ Đỏ
Đất Seattle Thầm Lặng Níu Bước Chân Anh”

Sự ra đi đột ngột của ba tôi đã để lại cho mẹ và anh em tôi một nỗi niềm thương nhớ và hụt hẫng vô tận. Cho dù anh em tôi đã lập gia đình và cho ba mẹ những đứa cháu nội ngoại kháu khỉnh, chúng tôi luôn cảm thấy nhỏ bé và dại khờ, khi không còn được nghe những lời khuyên bảo của ba tôi. Chúng tôi đã không còn cơ hội để đón nhận thêm những tình cảm nào của ba. Nhưng, những tình cảm và những lời dạy của ông sẽ mãi theo chúng tôi trong suốt cuộc đời này. Ông đã dạy cho anh em tôi nhiều điều từ nhân cách sống, lòng thương yêu dân tộc, gia đình và người thân.

Ba ơi, con rất vui khi đã là con của ba, con rất tự hào về những hy sinh xương máu của ba trong cuộc chiến bảo vệ nền tự do và dân chủ cho MNVN, và hơn hết con rất hãnh diện có ba là người lính VNCH, đã từng sống và chiến đấu cho lý tưởng Quốc Gia và Dân Tộc tới hơi thở cuối cùng. Đúng như ai đã nói, “Vinh quang thay cho những ai được sống và chiến đấu bảo vệ nền tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc mình”.

Con không có cái vinh quang ấy, nhưng con xin hứa sẽ tiếp bước thế hệ cha anh, người lính VNCH, trên con đường đấu tranh cho một VN không CS, bằng ngòi bút hay bằng phương tiện truyền thông. Lần nữa, con xin cảm ơn ba và chúc ba được mọi sự an vui trong cõi vĩnh hằng.

Một ngày lễ Cha nữa đã đi qua. Tôi xin chúc mừng cho ai vẫn còn diễm phúc có cha bên cạnh. Bạn đang có cả một vùng trời hạnh phúc và bạn hãy nên trân quý nó. Bạn hãy thường xuyên thăm hỏi và phụng dưỡng cha mình. Hãy làm vậy bạn nhé!

http://navygermany.gerussa.com/main/van%20nghe/baivo/TinhChaVanMaiTheoCon.htm

Atlanta, 06/21/2015

1


PHÙ ĐIÊU THƯƠNG TIẾC

Cho tôi chạm tay vào bức tường đá lạnh
Tấm phù điêu thương tiếc bậc cha anh
Nơi những anh linh sĩ tử được nêu danh
Hồn nhập thể vạn vì sao lấp lánh

Cho tôi in dấu tay lên những tuổi tên hóa thạch
Đến quê hương tôi từ vạn lý nghìn trùng
Để lại hình hài trong cuộc chiến điêu linh
Lưu sử tích những chiến binh uy dũng

Cho tôi đặt trái tim mình lên vách đá
Để hòa cùng nhịp thở với người xưa
Cùng lăn mình trong đạn bão bom mưa
Cùng sinh tử dưới vòm trời lửa khói

Áp bàn tay mạch hồn nghe buốt nhói
Đá đã biết buồn tự thuở mới khai sinh
Chốn tạm dung ghi khắc nợ ân tình
Xương máu đổ từ Đồng Minh chiến sĩ

Cuộc chiến đã lùi sâu vào dĩ vãng
Bốn mươi ba năm đất Mẹ luống điêu tàn
Lịch trên tường tờ cuối sắp sang trang
Vẫn đọng mãi bụi thời gian hưng phế

Tôi đã thấy bóng mình soi trong đá
Nơi viễn phương, không phải nước Nam nhà
Quê hương mình dằng dặc buổi can qua
Nay đã mất vào tay phường bán nước!

Lỡ sinh ra trong cõi trần ô trược
Tuổi hoa niên luân lạc đất phương xa
Hỏi tại sao ở mảnh đất quê nhà?
Không có được bức phù điêu bằng đá!

Giặc cộng, bầy vượn người giả trá
Đê hèn sang phẳng mả cha anh!
Phế binh nuốt lệ sống đoạn đành
Hát khản giọng bài ca hành phương Bắc

Đêm trăng lạnh vọng tiếng ho khúc khắc
Người Lính già trăn trở thức thâu canh
Nhìn cháu con hậu duệ đã trưởng thành
Mong có lúc tên đồng đội mình ghi bia đá...

thảovânam mườibảythángchạpnămđinhdậu. dzuy lynh

* Photo: Model Destiny Nguyễn (hậu duệ BĐQ/VNCH)
1



2



3



4


Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh 12

https://youtu.be/7mi6xJThIuc



Khai Mạc Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 12
https://youtu.be/ZnpYvu2uMI0



Đại nhạc hội CÁM ƠN ANH kỳ 12 _P1

https://youtu.be/yGHugoj_lrQ



Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 12 - Phần 06

https://youtu.be/foM6BHfOAGs



Tuesday, July 23, 2019






Sài Gòn Ngày Dài Nhất

Duyên Anh

Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính nhẩy dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa?

Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đã oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát "Tiến vào Sài gòn ta quét sạch giặc thù..." muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Việt cộng đã tiếp thu Đài Phát Thanh, Bưu Điện... Giọng nói cầy cáo của Lý Quý Chung và ca khúc Nối Vòng Tay Lớn của thằng việt cộng nằm vùng Trịnh CS không còn nữa.

Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của Thủy Quân Lục Chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây, Việt Cộng để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lời hoan hô bộ đội giải phóng.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài Gòn là Tổng Trấn Sài Gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài Gòn là Đô trưởng Sài Gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài Gòn là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia đã đào ngũ.

Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh Sát tên Long.

Việt Cộng đã chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ?

Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đã đành, nó còn nhởn chìm cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ý và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận chìm, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho.Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn chìm theo.

Rốt cuộc, bọn giả hình sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng.

Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài gòn. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc.

Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc.

– Tôi chứng kiến tự phút đầu.
– Ông nói sao?
– Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình.
– Thật chứ
– Đáng lẽ tôi phải nói dối.
– Tại sao?
– Vì nói thật lúc này không có lợi.

Tôi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện. Và tôi được nghe "Huyền sử một người mang tên Long" do một trong hai người kể.

Truyện như vầy:
10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng Thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà mình hay nhà thân nhân của mình. Một mình trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn.

Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nhìn trước, nhìn sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài Gòn đã ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng.

Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp.

– Đó, diễn tiến cái chết của trung tá Long.
– Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện?
– Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa
– Rồi sao?
– Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có thì giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền hình Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đã không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hãy nhìn cho kỹ. Trung tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên mình.

Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô Đốc Tuyết, Đô Đốc Long... Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung Tá Long chảy máu mắt nhìn quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ còn biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc.

Đã hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long?

Người ta đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long?

Ai đã làm công việc sưu tầm lý lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này?

Than ôi, lịch sử đã hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nhìn quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay.

Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta còn đòi đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong "lý tưởng" nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống.

Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần:
– Tay bẩn lấy gì rửa? Cận thần đáp:
– Nước.
Hàm Nghi hỏi thêm:
– Nước bẩn lấy gì rửa?
Cận thần ngơ ngác:
– Tâu bệ hạ, thần không hiểu.
Hàm Nghi nói:
– Nước bẩn lấy máu mà rửa!

Trung tá Long đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4.
Lính nhẩy dù đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4.
Lính văn nghệ đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4.

Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy gì nhỉ?
Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam. Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính. Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc! Những kẻ này vẫn thừa thãi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kết cứu nước. Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ.

Bọn Giải phóng quân đã đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó hoan hô tưng bừng. Dân chúng chiêm ngưỡng Trung tá Long tản mạn. Trung tá Long nằm nguyên chỗ ông ngã rạp cho máu rửa nhục Sài Gòn. Giã từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ.

Xin hãy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài dòng về Trung tá.

Duyên Anh 1986


(Bài do Lê Đức chuyển)



Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bản tuyên bố này được phát trên đài phát thanh Sài Gòn vào lúc 13 giờ 30.
Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi các lực lượng của VNCH “không nổ súng và ở đâu ở đó” để bàn giao chính quyền cho Chính Phủ Cách Mạng.

Chính Ủy Bùi Tùng:

Lời Tác Giả: Sau khi chúng tôi phổ biến bài “Hàng Tướng Dương Văn Minh”, nhiều độc giả đã viết thư yêu cầu nói rõ hơn về chuyện đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh, vì các tài liệu đều viết khác nhau, nhất là tài liệu của Việt Cộng. Vì thế chúng tôi xin công bố thêm nhiều chi tiết quan trọng liên quan đến vụ đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh, kể cả trường hợp của Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, để làm sáng tỏ lịch sử. Một phần tài liệu trong bài này đã được công bố trong bài trước.


Nhưng chúng tôi xin nói rõ đây không phải là toàn bộ tài liệu về cuộc đầu hàng. Khi nào chúng tôi cho xuất bản cuốn “Tại sao Mỹ bỏ miền Nam?”, độc giả sẽ có tài liệu đầy đủ hơn.

ooOoo


---------------------------------



Ông Đặng Văn Quang được phong Trung Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1965

Trung tướng Đặng Văn Quang, nguyên cố vấn quân sự và an ninh quốc gia của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời tại Hoa Kỳ, khép lại cuộc đời một vị tướng miền Nam phản ánh của bi kịch chính trường Sài Gòn và quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng Hòa.

Ông rời Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4-1975, đến trại tị nạn ở bang Arkansas. Sau đó tướng Quang vội vã rời đây vì e ngại nỗi uất hận của đồng hương bột phát sẽ không an toàn cho bản thân ông, vì có một số lời đồn đại không tốt từ thời chiến.

Ông sang Canada thăm con và khi trở lại Hoa Kỳ thì chính phủ Mỹ không cho nhập cảnh mà không nêu lý do. Canada cũng không muốn sự có mặt của tướng Quang trên đất nước họ vì những cáo buộc liên hệ đến ông và muốn trả ông về Việt Nam.

Sự việc đã làm xôn xao dư luận người Việt hải ngoại trong thời gian đầu định cư ở nước ngoài.

Ra đi vất vả

Theo cựu trưởng phân tích gia của CIA Frank Snepp viết trong tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977, ngày 29-4 tướng Quang đến trước Đại Sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn trong lúc đông người đang chen lấn mong được di tản.

Từ trong sân tòa đại sứ, giám đốc CIA tại Việt Nam Tom Polgar nhận ra tiếng tướng Quang gọi và ra lệnh cho lính Thủy Quân Lục Chiến mở cổng cho vào. Vào bên trong, tướng Quang tiếp tục tìm cách cầu cứu vì đã bỏ lại người con và cháu bên ngoài.

Theo Snepp, lúc này tướng Quang chẳng còn là người quan trọng đối với Hoa Kỳ vì ông đã “phản bội người Mỹ” khi không báo cho CIA biết về kế hoạch bỏ cao nguyên của Tổng thống Thiệu. Chiều hôm đó tướng Quang được di tản ra khỏi Việt Nam bằng trực thăng.

Trong Decent Interval còn ghi chi tiết là trước đó vài hôm tướng Nguyễn Cao Kỳ đã muốn bắt giam tướng Quang khi các tướng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng ông đã lẩn thoát được.

Những bất đồng giữa tướng Kỳ và Tổng Thống Thiệu trong thời gian nắm quyền lãnh đạo miền Nam, trong khi tướng Quang lại được ông Thiệu tín cẩn, đã gây nhiều hiềm khích giữa tướng Kỳ và tướng Quang với nhiều đồn đoán. Có dư luận cho rằng do phe tướng Kỳ đưa ra, về tham nhũng, buôn bán bạch phiến dính tới tướng Quang mà người dân miền Nam có một thời gian được nghe biết.

tailieu800.jpg Hai tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Johnson tại Honolulu năm 1968 trong thời kỳ rất khó khăn của VNCH.

Tuy nhiên những ghi nhận trong các tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977 và CIA and the Generals của Thomas L. Ahern, Jr. xuất bản năm 2009 đưa ra những tài liệu được giải mật cho thấy tướng Quang không liên hệ đến các cáo buộc buôn bạch phiến.

Vì tướng Quang được ông Thiệu tin cẩn và ông còn là người liên lạc giữa Dinh Độc lập với CIA nên cơ quan tình báo Mỹ đã có những điều tra riêng về nhân cách và biết rõ ông không liên quan đến bạch phiến như những tin đồn hay thông tin được nhà báo Mỹ Alfred W. McCoy viết trong tác phẩm The Politics of Heroin in Southeast Asia xuất bản vào đầu thập niên 1970.

Nhiều thông tin trong sách này đã được các nhóm chống đối chính quyền của ông Thiệu, điển hình như phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, dịch và phát tán tại Việt Nam trong những năm sau khi Hiệp định Paris được kí kết vào tháng 1-1973.

Tổng thống Thiệu lúc đó cho rằng các phong trào chống chính phủ của các tôn giáo Phật giáo, Công giáo là có người Mỹ đứng sau giật dây.

Theo Frank Snepp, tướng Quang là người giao tiếp giữa Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Ông đã có rất nhiều cuộc gặp với giám đốc cũng như nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn để trao đổi tin tức, phân tích tình hình chính trị, quân sự và chính sách của lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa với người Mỹ. Snepp nhận xét tướng Quang có nếp sống với chuẩn mực đạo đức cao, sòng phẳng về tiền bạc.

Vì thế câu chuyện tướng Đặng Văn Quang sau khi rời Việt Nam không được chính phủ Mỹ cho định cư, còn Canada đòi trục xuất đã làm xôn xao dư luận một thời.

Sống tạm dung ở Canada tướng Quang đã làm đủ mọi việc để kiếm sống.

“Trong đời tôi mang ơn nhất Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”.

Trung tướng Đặng Văn Quang

Phục hồi danh dự

Năm 1988, một sĩ quan Lực lượng Đặc Biệt của Mỹ, cựu Trung tá Dan Marvin từng phục vụ tại Quân Đoàn IV khi tướng Quang là Tư Lệnh, biết được việc chính phủ Hoa Kỳ không cho phép ông vào Mỹ nên đã vận động để trả lại sự thực và đòi công đạo cho một vị tướng Việt Nam Cộng Hòa bị quá nhiều tai tiếng.

Marvin coi tướng Quang là người đã cứu mạng ông trong một tranh chấp lúc chiến tranh khi ông làm cố vấn tại làng Hòa Hảo An Phú trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sự kiện này được Dan Marvin ghi trong tác phẩm Expandable Elite xuất bản năm 2003.

Tác giả đưa ra giả thuyết chính phủ Mỹ không cho tướng Quang nhập cư vì ông đã không tán đồng kế hoạch của Hoa Kỳ nhằm ám sát Thái tử Norodom Sihanouk của Cam Bốt vào năm 1966.

Dan Marvin đã kiến nghị đến các dân cử, ban ngành liên hệ và cả với Tổng Thống George H. W. Bush (Cha). Cựu giám đốc CIA tại Sài Gòn Tom Polgar, người đã có rất nhiều dịp gặp gỡ, tham khảo với tướng Quang khi còn làm việc trong một bản tường trình ủng hộ cho ông được vào Hoa Kỳ.


tailieu801.jpg

Tướng Đặng Văn Quang có cuộc sống khá vất vả kể cả sau khi được định cư tại Hoa Kỳ


Ông Marvin đưa ra nhận xét là tướng Quang và gia đình lúc ở Việt Nam đã không có một cuộc sống giầu sang, phú quý và những cáo buộc liên quan đến chuyện ông buôn bán bạch phiến là không có cơ sở vì theo những điều tra riêng của CIA thời đó, trước khi tổ chức này tin và liên lạc với ông, tướng Quang không có dính líu gì đến bạch phiến.

Sau đó chính quyền Canada hủy bỏ những cáo buộc liên quan đến tướng Quang và chính phủ Mỹ đồng ý cho ông định cư.

Đến Mỹ vào tháng 9-1989, hai ông bà có lúc sống ở Atlanta, khi ở nam California. Ông tiếp tục làm những việc lao động và vợ là bà Đỗ Thị Năm cũng làm bánh bán để kiếm sống.

Sau này vì tuổi già sức yếu, hai ông bà được sự giúp đỡ của cựu Thiếu Tá Trần Văn Ngà, nguyên Trưởng Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn IV, đưa về sống trong một chung cư dành cho người già ở Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California.

Mùa hè năm ngoái tôi có dịp đến thăm tướng Quang nhân cùng đi với đoàn quay phim của Hội Bảo tồn Lịch Sử và Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) đang thực hiện phỏng vấn 500 người để lưu lại trong thư viện Đại Học Texas ở Austin. Tướng Quang đã yếu và trí nhớ kém nhiều vì tuổi già.

Hỏi ông về những biến cố trong đời có điều ông nhớ, có điều không. Tôi có hỏi ông trong đời ông mang ơn ai nhất, tướng Quang nói đó là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Đối với những người đã gây phiền lụy, tướng Quang nói ông tha thứ hết.

Cựu Trung tướng Đặng Văn Quang sinh ngày 21-6-1929 tại Sóc Trăng.

Ông là một vị tướng trẻ nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, từng giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Tư Lệnh Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật. Chức vụ sau cùng của ông là phụ tá đặc biệt về quân sự và an ninh quốc gia cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ông qua đời hôm 15-7 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, để lại vợ, 7 người con và 9 cháu nội ngoại.

Tang lễ cựu Trung tướng Đặng Văn Quang đã được cử hành theo nghi thức công giáo tại nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Sacramento, California vào chiều ngày 20-7-2011 và nghi thức hỏa táng diễn ra vào trưa ngày hôm sau.

Tác giả Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và sống tại vùng Vịnh San Francisco.



*******************************************************************************

Tướng Đặng Văn Quang

Những cực khổ và oan ức của tướng Đặng Văn Quang đã được tác giả R.V. Schheide viết trong bài “The Trial of General Dang” trên báo Sacramento News & Reviews ngày 4 tháng 12, 2008 dưới đây.

The trial of General Dang


From Saigon to Sacramento, a South Vietnamese general’s journey proves old soldiers don’t fade away, they stick together
By R.V. Scheide

In a south Sacramento assisted-living home, Lt. Gen. Quang Van Dang waits out the last moments of his life. He is ill, very ill, and has been for several years. Disease and old age have corroded the 78-year-old’s mental faculties; his eyes, though alert, have the look of a man held captive by his own body. Family members gather around, knowing this might be the last chance they ever get to speak with the general.

To the young girl sitting beside him in the room, he is simply Grandpa, but at one time, Lt. Gen. Quang Van Dang commanded the largest military force in the Republic of Vietnam. Later, he served as national security adviser to President Nguyen Van Thieu, working closely with U.S. officials who considered him a valuable American asset. Then came the fall of Saigon, in April 1975, and Dang’s world turned upside down.With the help of American officials, Dang escaped the chaos and was able to settle his wife and his seven children in the United States and in Montreal, where French-speaking Vietnamese can more readily assimilate. But after visiting one of his sons in Montreal in May 1975, Dang’s visa application to re-enter the country was rejected by the U.S. State Department.

No explanation was given, but at roughly the same time, Canadian and American news sources began alleging that Dang controlled the heroin trade in the Mekong Delta during the war and had secreted away millions of dollars in Swiss bank accounts. Dang found himself branded an “undesirable alien” in Canada, the only thing preventing his deportation the certain death sentence awaiting him back home in communist-ruled Vietnam.

For the next 15 years, Dang washed dishes and worked odd jobs in Montreal to support his wife and two sons. Appeals to the State Department by family members in America and military officers who vouched for his character were ignored. The United States had apparently washed its hands of him.

When retired U.S. Army Special Forces Lt. Col. Dan Marvin offered to help him in 1988, the general couldn’t place the name at first. He’d known many American officers during the war. Marvin’s message was simple: The general had once saved his life and the life of his men in Vietnam. It only seemed right to return the favor.

Vietnam in 1965 was a country set to explode. In the more heavily populated south, the collapse of French colonialism had been followed by a succession of corrupt national governments; communist insurgents operating from safe havens in Cambodia had overrun the countryside. America’s arrival on the scene added more fuel to the fire. Caught in the middle, between colonialism and communism, were ordinary Vietnamese such as the 64,000 Buddhist Hoa Haos who lived in the An Phu District, on the Bassac River near the Cambodian border.

Capt. “Dangerous” Dan Marvin fell in love with the Hoa Haos immediately.

This isn’t precisely the same Dan Marvin who earlier this year notified SN&R that Gen. Dang was spending his final days in a south Sacramento rest home. This is Dan Marvin before he found God, when he was not only dangerous but lethal.

“I fell in love with An Phu just going up the Bassac River,” he recalls via telephone from his home in upstate New York. “The people on the banks were waving and smiling, and I remembered thinking I was going to earn those waves and smiles.”

Marvin was at the vanguard of the U.S. strategy to use special forces troops to win the “hearts and minds” of Vietnamese villagers. At An Phu, working with South Vietnamese Green Berets and Army of the Republic of Vietnam officers, he directed a force of 692 Hoa Hao “irregulars” to defend the village from the Viet Cong. The team’s medics provided much-needed health care to the villagers, none of whom owned an automobile, and army engineers helped develop local potable water systems and back up food and ammunition supplies.

His 12-member “A Team,” backed up by the Hoa Hao irregulars, conducted the first covert U.S. operations in Cambodia. When the Viet Cong attacked a village, Marvin and the Hoa Hao irregulars defended the villagers and routed the enemy. Casualties were heavy on both sides. He calls the Hoa Haos “the fiercest fighters I have ever known.”

“The VC were better armed and we never fought at less than 4-to-1 odds against us, and we always came out on top!” Marvin says. The Hoa Haos were simple people and they didn’t want what everybody else had. They just wanted peace. Anybody that tried to control their area they didn’t like.”

Bonded through bloodshed, Dangerous Dan was declared an honorary Hoa Hao. He’d won their hearts and minds.

But even before he landed in An Phu, he’d begun to sense a shift in U.S. war policy. Winning hearts and minds no longer seemed to be the goal. Particularly troublesome to him was President Lyndon Johnson’s refusal to deny the Viet Cong safe-haven status in Cambodia, where they could shell An Phu at will. Because his covert missions into Cambodia were illegal and would be officially denied if he were caught, he began mailing a weekly written record using Vietnamese postal channels to a friend back home in the States. If he got killed in Cambodia, he wanted someone to know why.

Marvin’s men depended on regular air drops at their camp just outside An Phu for supplies. Occasionally, new personnel would be flown in by helicopter. On the morning of June 10, 1966, a white Air America helicopter landed at the base. A short, stocky man, Walter Mackem, flashed his CIA identification card. He was carrying top-secret orders for a false flag operation. If Marvin accepted the assignment, Marvin and his Hoa Hao irregulars would cross the border, ambush and kill Cambodian Crown Prince Norodom Sihanouk and blame it on the Viet Cong.

Thrice decorated for valor in the Korean and Vietnam wars, the born-again Marvin unabashedly admitted by phone that he once thirsted for such missions. He told Mackem he would kill the prince on the condition that President Johnson revoke Cambodia’s safe-haven status. Marvin began training the 42 volunteer irregulars for the mission. Three days later, Mackem returned and asked if Marvin was ready to go. Marvin asked if the president had removed Cambodia’s safe-haven status. Mackem admitted that he hadn’t, so Marvin scrubbed the mission.

“You can’t fight the system, captain,” a furious Mackem said before boarding the helicopter. “You know you can’t win.”

For Marvin, as well as the United States, the prosecution of the war had reached its critical juncture. Winning hearts and minds was no longer the goal. Winning at all cost, including a massive influx of U.S. troops; wide-scale bombing of the entire country; and black ops such as the CIA’s Phoenix Program, which “disappeared” as many as 20,000 Vietnamese civilians; became the new modus operandi.

The shift in policy also corresponded with the war’s growing unpopularity at home. As U.S. casualties mounted, people, especially young people eligible for the military draft, took to the streets in mass protests. Eventually those protests would lead to the U.S. withdrawal from Vietnam and the de facto loss of the war.

tailieu799.jpg Lt. Gen. Quang Van Dang was the youngest general in the history of the Republic of Vietnam. He grew up in a small village in the Mekong Delta, where this photo was taken in 1966.
PHOTO COURTESY OF LT. COL. DAN MARVIN

When Vietnam veterans like Marvin say we could have won the war if they’d only let us fight it the right way, that’s what they’re talking about. In their view, we were winning Vietnamese hearts and minds, we were pushing the enemy back. Bombing the country back into the Stone Age only strengthened the enemy’s resolve and increased the war’s unpopularity at home.

Four days after Marvin refused to carry out the assassination of Prince Sihanouk, the camp received a message from headquarters. The Vietnamese government had decided to revoke the amnesty granted to Marvin’s Hoa Hao irregulars. Marvin had spent six months building their trust, but now a 1,500-strong ARVN regiment, sent by the CIA and led by American advisers, was proceeding to An Phu to attack Marvin’s camp and force the Hoa Haos to submit to military tribunals to determine their loyalty to South Vietnam.

It seemed the CIA wasn’t pleased with Marvin’s refusal to carry out the mission, and the Green Beret knew he was at a serious disadvantage. The special forces proudly acknowledge they are the “expendable elite.” Marvin would later use the phrase for the title of his book on covert operations. The ARVN regiment sent by the CIA could attack his men with impunity, since the U.S. government would deny any knowledge of the covert operations on the Cambodian border.

Marvin knew his men and the Hoa Haos were no match for a fully armed regiment. But after conferring with his regular Vietnamese officers, he decided surrender wasn’t an option. They would make a stand on principle, undoubtedly their last. Certain death was hours away. It was then that one of Marvin’s Vietnamese officers, Maj. Phoi Van Le reminded him of the visit several months earlier by Lt. Gen. Quang Van Dang.

Dang, the youngest general in the Republic’s history, commanded the IV tactical zone, encompassing most of the fertile Mekong Delta region in southern Vietnam, including An Phu. In fact, he’d grown up in the Mekong, and knew and respected the Hoa Haos. The general had come to personally congratulate Marvin’s irregular volunteers after they’d beaten back a large enemy force. Like Marvin, he deeply believed in the “hearts and minds” strategy, and granting amnesty to the irregulars was crucial to its success. Without it, they’d desert and be useless as a fighting force.

According Marvin’s book, Expendable Elite, when a Hoa Hao chairman informed Lt. Gen. Dang at IV Corps headquarters that a fully armored ARVN regiment would be attacking friendly forces in An Phu within hours, Dang sprang into action. He requisitioned a helicopter and an armed escort and flew out to the regiment. As he hovered above, the senior U.S. adviser on the ground informed him, “There’s a renegade Green Beret captain named Marvin leading the Hoa Haos against Saigon!”

Knowing the claim was false, Dang ordered the regiment commander to turn his men around, two hours before they would have attacked An Phu.

Word of the about-face didn’t reach Marvin’s camp, and the men prepared for the worst. Marvin and Maj. Phoi Van Le shared what both believed might be there last conversation.

“We have been through many trials and have shared many victories together, my friend,” Marvin said. “We now face a struggle against enormous odds and against a force that none of us could have imagined, but we face it together!”

“Yes, and at this moment I feel confident of victory, yet not knowing how we will achieve it, but certain because we are doing what is right for our people on both sides of the ocean.”

When they heard four heavily armed helicopter gunships approaching the camp, they figured the end was near. Then radio contact was established, and Maj. Le exclaimed, “It’s General Dang!”

The two men hugged each other, then stood at attention by Dang’s helicopter. The door slid open, and the general stepped out, brass swagger stick in hand. They exchanged salutes, and Dang turned to Maj. Le.

“I have come to tell your brave men that they have my personal guaranty of amnesty,” he said. “They will not go before tribunal.”

Marvin and Le assembled the men, and the general made his announcement.

“I came here to tell you your amnesty has been restored, and I personally guarantee it will no longer be questioned. I am proud to know the Hoa Hao fighters of An Phu.”

Then Dang got in his helicopter and flew off. Their meeting had lasted several hours at most. Nevertheless, it would become a pivotal moment in both men’s lives.

It’s been said that history is written by the winners, and history has not been kind to the general. It’s difficult to understate the role divisiveness within the Vietnamese government and the powerful influence of the CIA during the war played in his fate.

According to a North Vietnamese biography, Dang, a so-called puppet general, collaborated with the French in the 1950s and easily switched masters to the United States in the early 1960s. Nevertheless, he balked at the introduction of more U.S. troops in the IV tactical zone, favoring only South Vietnamese forces that had maintained excellent security against the Viet Cong. He quickly fell out of disfavor with the acolytes of Gen. William Westmoreland, who favored a massive influx of U.S. troops into the area.

Calling off the attack at An Phu could not have enamored Dang with the CIA, according to Marvin. Westmoreland considered Dang incompetent and pressured Thieu to remove him from commanding the IV tactical zone, which Thieu did.

However, if Westmoreland thought he’d seen the last of the general, he was mistaken. Thieu and Dang were college classmates and longtime friends. Thieu respected Dang’s military and diplomatic capabilities and would eventually appoint him as his national security adviser, the second most powerful position in the government.

The earliest report tying Dang to the drug trade came from the aforementioned North Vietnamese biography, which informs that “some puppet generals in re-education classes have said that after Dang was made Thieu’s special adviser, he and his wife continued to buy Western drugs in the IV tactical zone in order to resell them in Saigon, seizing the drug market in the big cities and extending their business to other areas.”

No evidence tying Dang to drugs has ever been presented. But the CIA often waged misinformation campaigns against Vietnamese officials, and Marvin is convinced the agency targeted the general after the incident at An Phu. Dang’s friendship with Thieu would see him through to the war’s end, but the allegations would come back to haunt the general after he fled Vietnam in April 1975 after the fall of Saigon.

He landed in a refugee settlement camp in Texas and immediately felt unsafe. As a high-ranking member of the South Vietnamese government, he’d made a lot of enemies, and he grew fearful that someone in the camp might seek revenge. He decided to visit his son in Montreal to see if the situation was any better there. When trying to return, his visa was revoked, with no reason given. It would be the last time he touched American soil for 15 years.

Marvin believes the State Department’s rejection of Dang’s visa is a direct result of the general’s interference in the plot to kill Prince Sihanouk. Even though the general later worked closely with the CIA, such a transgression would not be easily forgiven, especially by the agents in charge of the operation. There is no doubt that the CIA has the capability to contact the State Department and challenge the immigration status of anyone it sees fit; and it certainly has a file on the general, although it’s not for public consumption.

Another plausible explanation Dang was denied entry is offered by former Saigon CIA station chief Tom Polgar, who ensured the general and his family escaped the fall of Saigon. Leaving the United States to visit his son in Canada was a huge mistake, Polgar told a reporter from Marvin’s hometown newspaper when Dang was finally issued a visa in 1989.

“Under the U.S. practice, the moment a Vietnamese refugee left the United States under his own volition, we washed our hands of him. The cause of South Vietnam and the South Vietnamese leadership wasn’t all that popular in 1975.”

They do not call Lt. Col. Dan Marvin “Dangerous Dan” for nothing. Members of the U.S. armed forces aren’t allowed to kill outside of combat, so assassination missions—which were later proved to be widespread during the war—were volunteer only and kept strictly under wraps. According to Marvin, who said he accepted many such assignments, a “hypothetical” mission might go down something like this:

Suppose the military high command or the CIA has someone they want assassinated in Manila, and Marvin (or another soldier with a similar skill set) is due three days R&R. The top-secret assassination order is handed down through back channels to field headquarters, so it can’t be traced. Marvin accepts the assignment and is classified absent without leave to further cover the tracks.

He reads, chews and swallows his orders, then catches the next plane to Manila, where he registers in a four-star hotel. For the next two days, he follows the target around the city. He discovers the target lives on a boat, and decides that’s where he’ll kill him. Every Special Forces operative has their own specialty; Marvin likes knives. You don’t throw away a knife, he says, because you never throw away your weapon.

Late at night, a hypothetical assassin creeps barefoot onto the boat and slits the target’s throat. He dumps the body in the middle of Manila Bay, then returns to the dock and cleans up the mess. The body won’t be discovered for days, and by then, the assassin will be back in South Vietnam, heading up a new A Team, and no one will be the wiser.

No, they don’t call him Dangerous Dan for nothing. Marvin earned the sobriquet in the 1950s as a touch noncommissioned officer in the 82nd Airborne. The problem soldiers were sent his way. One such soldier didn’t make the cut and killed himself on a weekend pass. In his suicide note, he wrote Marvin was “dangerous” and should be thrown out of the army. Marvin doesn’t care much for its origins, but the nickname fit. At the time, he wasn’t just dangerous. He was beyond redemption.

These are the kind of unflattering details the former assassin frequently relates when talking about his past life, and it adds veracity both to his story and his claim that since finding Christ, he is a new man. He remembers the date precisely: January 29, 1984.

He’s driving with his 20-year-old daughter Danilee down a Florida freeway on the way to the funeral of a relative, Mary Kate. Danilee has a Bible open on her lap and she’s reading. Marvin’s a lapsed Catholic, and though he’s not irreligious, he’s not a Bible man, either.

“Why are you reading that Bible?” he says.

“I want to see Mary Kate get saved so she can go to heaven,” she answers.

“I want you to close that Bible.”

“Daddy, if I can’t read the Bible, then I can’t be with you.”

He orders her to close it again. She insists she’ll walk if she can’t read it. He pulls over and stops the car. He gets out and walks into the woods on the side of the road.

Danilee is his closest daughter, and he’s never seen her like this before. Gradually it dawns on him. If it’s so important to her she’s willing to travel the remaining 40 miles on foot, maybe it can be important to him, too. The secrets he’s been keeping for years, all the killings, all the bloodshed, come flooding out. He confesses his sins in silence to Christ and is forgiven right there on the spot.

For years, the only thing that kept Marvin from speaking out about the incident at An Phu was the top-secret nature of his assignment near the Cambodian border. Officially, the United States doesn’t assassinate people. Unofficially, Marvin knows better, and he feared the government might send someone just like him to kill his family if he went public with the story.
tailieu802.jpg Lt. Gen. Quang Van Dang congratulates the Hoa Hao fighters trained by Lt. Col. Dan Marvin after the retaking of a village. Dang commanded the IV tactical zone, which included most of the Mekong Delta.
PHOTO COURTESY OF LT. COL. DAN MARVIN

Christ had now removed that fear. The day after he was saved, Marvin began working on Expendable Elite: One Soldier’s Journey Into Cover Warfare, the tell-all book that was published in 2003. The book symbolizes what has become Marvin’s life mission, to recognize his South Vietnamese comrades and criticize the U.S. government’s shift from winning hearts and minds in the villages to wholesale bombardment of the entire country.

In 1986, Marvin was astonished to discover that Lt. Gen. Dang was living as an “undesirable alien” in Canada. Although the Green Beret had only met the general briefly on two occasions, the press reports alleging Dang was a murderous drug lord didn’t match the fellow soldier who’d saved his life and the lives of his men. Born again and now able to speak out, Marvin did what any other honorable soldier would do in the same situation. He set out to clear the general’s name.

History may be written by the winners, but in the trial of Lt. Gen. Quang Van Dang, no one really knows the score. There’s the North Vietnamese version depicting the “puppet general” as President Thieu’s corpulent, corrupt right-hand man. There’s what might be called the history as written by sore losers, featuring Dang’s name in a half-dozen prominent Western volumes on the war, the Southeast Asian heroin trade or both. There’s the TV news version, with ABC’s Roger Mudd alleging before a nationwide audience that Dang controlled the Mekong Delta’s heroin trade and secreted away millions of American dollars in Swiss bank accounts.

Then there’s the only history that can be officially substantiated: the record gathered by Marvin on his two-decade mission to clear the general’s name. Composed of previously unreleased classified documents and the testimony of three U.S. generals and two Saigon CIA station chiefs, Marvin’s efforts reveal beyond a shadow of a doubt that Dang was an extremely valuable American asset during the entire course of the war.

Tom Polgar, the Saigon CIA chief from 1972 to 1973, continues to support the general. As station chief, he had worked with a number of designated intelligence and security officials of the Vietnamese government.

“One of these contacts, indeed one of the most important and productive ones, was Lt. Gen. Quang Van Dang, who served—until the third week of April, 1975—as the National Security Assistant to the President of the Republic of Vietnam,” Polgar wrote in the general’s defense in 1989. According to declassified CIA documents, Dang acted as the CIA’s direct conduit to President Thieu, informing the agency of, among other things, Thieu’s frustration with the ongoing Paris peace talks in 1968.

Polgar also dispelled the notion that Dang became a player in the Mekong Delta heroin trade while commanding the IV tactical zone from 1964 to 1966, as alleged by various different media sources. Charges of corruption and drug smuggling, true and false, were rampant in the unstable country during the war, and Polgar says the CIA vetted the general thoroughly before working more closely with him.

“We could never find any substantiation,” Polgar insists. “Indeed my visits to his home and my acquaintance with his family led me to the conclusion that Quang was not a rich man. He lived in Army quarters, his wife dressed simply, they never vacationed abroad, no one in the family displayed expensive jewelry. Quang’s post-1975 existence confirms that he had no secret Swiss bank accounts or hoards of gold.”

That latter fact was also confirmed by a private policy security council study that found that very few South Vietnamese higher-ups, including Dang, escaped the country with more than a few hundred thousand dollars.

Armed with facts and witnesses, Marvin pressed Dang’s case with the U.S. State Department, demanding to see any evidence implicating the general in the drug trade, the reason the department cited for denying Dang re-entry into the United States from Canada in 1975. He wrote letters to his congressman, Rep. Matthew McHugh, as well as Sen. Patrick Moynihan and President George H.W. Bush.

1
tailieu803.jpg
Lt. Col. Dan Marvin (left), Gen. Quang Van Dang (right) and his wife Nam Thi Do were all smiles when the Dangs returned to the United States in 1990. The general was prevented from entering the United States for 17 years for allegations that were proved to be unfounded.

PHOTO COURTESY OF LT. COL. DAN MARVIN


A little more than a month after Marvin wrote Bush the elder, the U.S. Consulate in Montreal notified the State Department that the security considerations in the case had been resolved in the general’s favor. An exhaustive search of civilian and military records found no evidence of any wrongdoing that could be used to exclude Dang from the United States. An immigration visa was forthcoming promptly.

On September 24, 1989, Marvin personally drove Dang from Montreal to Champlain, N.Y., where the born-again Green Beret treated the general to his first American meal in 15 years, a hamburger at McDonald’s.

How much of all this Dang remembers today, if any, is uncertain. There’s still a light in the 78-year-old general’s eyes, and he responds with obvious affection to his granddaughter’s touch. He appears fit and comfortable in pajamas and sandals and can walk with assistance. But his mind has been deteriorating for several years now, and his responses to questions, as translated by his son-in-law, are fragmented.

Dang couldn’t remember who Marvin was when the Green Beret first contacted him in 1988. The incident at An Phu was just one of many in which the general was called to intervene during a long, bloody conflict. Eventually, he did recall Marvin, and he was grateful someone from the United States remembered they had once fought together on the same side. Beyond that, the general can’t recall specific details. He doesn’t talk about the war. He has no good memories.

It’s not a popular subject with many Vietnam veterans. In 2004, six members of Marvin’s A Team, as well as his commanding field officer, filed a libel suit against him and the publisher of Expendable Elite. The plaintiffs demanded $700,000 in damages, alleging that the book’s claim they had fired into Cambodia in 1966 was false and had exposed them to public ridicule. In court, Marvin defended the factual basis for the book, noting that even though he had revealed top-secret information—the cross-border operations into Cambodia and the plot to assassinate Prince Sihanouk—no one in the government had sought to prosecute him.

“If I would have been brought to court by the CIA or the Defense Department, speaking for the Special Operations Command, they would have had to admit that everything in the book was true,” he testified. “I would have welcomed going to court about the situation in Vietnam, because every bit of the top-secret information in the book is based on illegal operations stemming from our government.”

Marvin prevailed in the lawsuit, but his battle isn’t over. The 64,000 Buddhist Hoa Haos of An Phu, who wanted nothing more than to be left alone and live in peace, marked him indelibly. In 1966, the United States was winning hearts and minds, as he sees it. The policy shift to full-scale conventional warfare ultimately led to the loss of the war and what he believes was the betrayal of the Vietnamese people. Marvin intends to make amends for that betrayal. History may be written by the winners, but he intends to have the last word.

To that end, he continues to pressure the State Department to issue an official press release clearing the general’s name. No such statement has yet been issued. In the trial of Lt. Gen. Quang Van Dang, the verdict, like so much of the truth about Vietnam, remains elusive.

The general is near the end of his journey now, and will soon be beyond history’s reach. In an assisted-living home in south Sacramento, not far from the center of the city’s thriving Vietnamese population, he waits out the end with his wife by his side. He has traveled far, from humble beginnings in the Mekong Delta to standing beside the president of his country, washing dishes in Montreal restaurants to make rent to this room where he’ll die.

He doesn’t perceive his path as a fall. The past is simply the past.

rdf: about="https://blog.goo.ne.jp/john06/e/b90dcc8e19b96eaa8b0eab85183e0a26"


https://youtu.be/oAViepRTAOQ

Người Nhái và Biệt Hải. Biệt Kích Nha Kỹ thuật. ARVN Commando
20

https://pics.me.me/an-anti-vietcong-task-force-332-confirmed-kills-1972-58128092.png



21

https://i0.wp.com/thenewsrep.com/wp-content/uploads/2013/09/across-the-fence-john-stryker-meyer_sofrep.jpg?fit=620%2C320&ssl=1

22

https://i.ytimg.com/vi/-MyCiKBTTkY/maxresdefault.jpg

23



24



25



26





27



28




M1
29




30


http://www.canhthep.com/modules/Forum/forums/kq/f5/notes/94502.mcstitchedvideohd.mp4


2

https://vignette.wikia.nocookie.net/allthetropes/images/e/e4/Main-qimg-52a1577f76c876942252b8300ae43643-c.jpg



3

https://usastruck.files.wordpress.com/2009/09/6108959282_784b55510e_o.jpg



4
Vietnam War 1972 |© manhhai, photo by Raymond Depardon/Flickr



5
https://usastruck.files.wordpress.com/2009/09/6108959282_784b55510e_o.jpg





ARVN and US Special Forces 6
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/07/ARVN_and_US_Special_Forces.jpg



Mekong Delta, primeres unitats UDT contra detonar Vietcong
7



8





ARGOMENTO: STORIA PERIODO: XX SECOLO AREA: VIETNAM Brown waters Black berets, le operazioni anfibie lungo il Delta del Mekong

9




10


Special Forces Captain Vernon Gillespie Jr. at firing range, using Arma-lite.




11

https://cdn.shopify.com/s/files/1/0624/2297/files/biet-dong-quan-sat-65-728_large.jpg



12


https://cdn.shopify.com/s/files/1/0624/2297/files/biet-dong-quan-sat-65-728_large.jpg



13

https://erenow.net/ww/vietnam-war-an-intimate-history/vietnam-war-an-intimate-history.files/image082.jpg

Captain James Scanlon and Captain Ly Tong Ba sharing the top of an armored personnel carrier



ARVN Marines in combat
South Vietnamese Marines fighting during the Tet Offensive of 1968 in Vietnam.




14

https://i.pinimg.com/564x/d7/22/a6/d722a67cdff277034d526c9da29b3fe1.jpg




15
https://www.thesun.co.uk/wp-content/uploads/2018/02/nintchdbpict000381566650.jpg






16


chiếc xe Ford Mustang sơn Quốc Kỳ Việt BMH Washington,D.C

Thưa Quý Vị, Quý NT và CH,

Chiếc xe Ford Mustang sơn Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa...

17


Hãng vận tải DHL

Hãng vận tải DHL mang nền vàng ba sọc. Dịch vụ ban đầu mà DHL đảm nhận là đưa thư giữa lục địa Hoa Kỳ và Hawaii, sau đó được mở rộng trên nhiều lĩnh vực kinh doanh. Năm 1998, Deutsche Post bắt đầu mua cổ phần ở DHL và cuối cùng đã giành được quyền sở hữu đa số vào năm 2001 và hoàn tất vụ mua năm 2002.

~~~



Cờ vàng ba sọc đỏ VNCH trên các sản phẩm nổi tiếng khắp thế giới ngày nay



============================================

18


Tại sao không giữ lời hứa với mẹ tôi
Nguyễn Bảo Tuấn

Gia cảnh cố Ðại Tá Nguyễn Ðình Bảo, người mà chúng ta đã quá quen thuộc qua nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie,” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết gia đình bà quả phụ Nguyễn Ðình Bảo hiện sinh sống tại Sài Gòn. Bà Nguyễn Ðình Bảo nay 76 tuổi, vẫn minh mẫn và khỏe mạnh. Hai ông bà có ba người con. Trưởng nam, Nguyễn Bảo Tường, là một bác sĩ Nhi Khoa. Thứ nữ, Nguyễn Bảo Tú, làm việc tại Tòa Lãnh Sự Anh Quốc tại Sài Gòn. Con trai út, Nguyễn Bảo Tuấn, kiến trúc sư và đang giảng dạy tại một đại học ở Sài Gòn. Dưới đây là bài viết hồi năm 2012 của anh Nguyễn Bảo Tuấn, về thân phụ mình. Tòa soạn tìm thấy bài viết này trên trang Facebook riêng của Nguyễn Bảo Tuấn, xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
tailieu808.jpg Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo (phải) và Ðại Tá Trương Vĩnh Phước (trái) trong chiến dịch Damber, Cambodia, Tháng Tám 1971.

Trên FB tôi thấy đại đa số thường chọn hình mình hoặc hình con mình để làm avatar, ít hơn một chút thì lấy hình của người yêu, vợ hoặc chồng, hoặc một hình gì đó mà mình yêu thích. Riêng tôi thì tôi lại chọn một đối tượng khác mà hình như tôi thấy chưa một ai chọn giống như tôi: Một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh đầy phong ba bão táp. Cả nhà 6 người mà chỉ có một chiếc xe đạp thay phiên nhau đi, gạo thì chạy ăn từng bữa, anh trai tôi ngày ngày cứ 5 giờ sáng phải chạy lên Gò Vấp để lấy bánh đậu xanh về đi bỏ cho các tiệm bánh rồi mới về đi học trong suốt 7 năm trời, từ năm học lớp 11 đến hết năm thứ 6 Y Khoa. Khó khăn là vậy nhưng tôi vẫn trưởng thành một cách đầy kiêu hãnh. Ðôi khi nhìn lại tôi tự hỏi là điều gì đã giúp tôi mạnh mẽ mỗi khi đương đầu với những khó khăn? Và câu trả lời là do trong huyết quản tôi vẫn đang mang một dòng máu nóng trong mình và tôi đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ người đã cho tôi dòng máu ấy: Một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.

Tôi cũng không biết tại sao tôi và người đó chỉ gặp gỡ và tiếp xúc trong có vài chục ngày, chính xác là từ ngày 6 tháng 1, 1972 đến ngày 25 tháng 3, 1972, mà tôi lại luôn luôn thương mến, cảm phục, tự hào và luôn lấy người làm tấm gương soi để tôi có đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn. Có lẽ là do cuộc sống của người quá vĩ đại và tôi đã được thừa hưởng một phần của nó. Mặc dù khi ra đi người đã không thực hiện được một lời hứa với mẹ tôi mà cho tới bây giờ tôi vẫn hỏi: “Tại sao?”

Charlie, tên nghe quá lạ!
“Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ... Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt...
Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy.
Mùa Hè năm 1972 - Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện.
Nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972 thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.
Charlie, “Cải Cách,” hay “C,” đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Ðường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên.”
(Trích trong “Mùa Hè Ðỏ Lửa” của Phan Nhật Nam)
"Charlie bỗng trở thành một địa danh được nhắc nhớ từ sau 4,000 quả đạn pháo tới trong một ngày, từ sau người mũ đỏ Nguyễn Ðình Bảo nằm lại với Charlie."
(Trích lời giới thiệu trong CD Chiến Tranh và Hòa Bình của Nhật Trường Trần Thiện Thanh)
Cho đến bây giờ cũng ít người biết rằng tôi chính là “đứa bé thơ” với “tấm khăn sô bơ vơ “ trong bài hát “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Và tôi lớn lên cùng với ký ức về một người Cha hào hùng như vậy.
Tôi không thần tượng Cha tôi từ một bài hát viết về người, cũng không thần tượng từ một hai trận đánh trong cuộc đời binh nghiệp của người, mà tôi thần tượng Cha mình từ chính cuộc đời của Người. Trải qua biết bao thăng trầm đời binh nghiệp và cuối cùng người đã được giao làm tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn “Song Kiếm Trấn Ải” (biệt danh của Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù), một trong những tiểu đoàn được xem là thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Cha tôi là một người khát máu hung tàn, mà ngược lại hoàn toàn, mọi người đều nhớ về hình ảnh Cha tôi như là một võ sĩ đạo đúng nghĩa: Giỏi võ, dũng cảm và cao thượng. Thời bấy giờ có mấy ai dám đánh một sĩ quan của Mỹ, vậy mà Cha tôi đã làm điều đó khi người sĩ quan đó dám làm nhục một người lính Việt Nam (chuyện này tôi được nghe bác ruột tôi kể lại). Có tiểu đoàn nào trong quân đội mà luôn gọi Tiểu Ðoàn Trưởng bằng tên thân mật “Anh Năm”?, nhất là trong binh chủng Nhảy Dù, việc phân chia cấp bậc luôn được tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Vậy mà trong Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù, tất cả mọi người, từ lính đến sĩ quan, chẳng ai gọi Cha tôi là Trung Tá cả, mà luôn gọi là Anh Năm, và “Anh Năm” thường hay nói với mọi người trong tiểu đoàn rằng: “Tụi mày thì chẳng biết mẹ gì, nhưng tất cả tụi mày tao đều coi là em tao hết.”
“Anh Năm,
“Ngoài đời anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật ‘giang hồ’ với bằng hữu anh em, còn trong quân ngũ, anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa bão táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, anh chia sẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp.
“Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?
“Tôi về lại vườn Tao Ðàn, vẫn những hoa nắng tròn tròn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lão làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy màu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của anh hồi tháng trước khi còn đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng. Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gõ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lão ngẩng đầu và nhận ra tôi. Siết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, chòm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết anh đã ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:
- “Thuốc lá ông Quan Năm cho, tôi vẫn còn đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao ông Trời bắt đi sớm như vậy!?”
(Trích trong “Máu Lửa Charlie” của Ðoàn Phương Hải)
Cha tôi đã sống như thế nào mà những người ít ỏi còn sống sót trở về sau trận chiến tại đồi Charlie đều nói là họ thật hối tiếc khi không được nằm xuống cùng Cha tôi ở đó.
“Tô Phạm Liệu cảm thấy lẻ loi ở cái đại hội y sĩ có nhiều những người ‘mặc quần mới áo đẹp’ và ‘ăn to nói lớn,’ thích ‘nhảy đầm’ và ‘xếp hàng để lên hát’... Trong cơn say, anh nói là phải chi trước kia, mười mấy năm trước kia, anh được ‘ở lại Charlie’ với Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo, với các bạn nhảy dù thì ‘sướng hơn nhiều.’”
(Trích trong “Tô Phạm Liệu: Người trở lại Charlie” của Phạm Anh Dũng)
Viên sĩ quan cố vấn Mỹ Duffy cho tới tận bây giờ vẫn còn luôn mang trong người những hoài niệm về Cha tôi và trận chiến tại Charlie. Mỗi lần tham gia các cuộc gặp gỡ của Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam (trong đó có một số hiện đang là tướng lãnh cao cấp trong quân đội Mỹ) ông ta đều hỏi mọi người, “Tụi mày có từng tham gia trận Charlie không, tụi mày có ai từng chiến đấu cạnh Colonel Bao (Trung Tá Bảo) chưa? Thế thì tụi mày còn xoàng lắm. Và hàng năm cứ mỗi lần sinh nhật của mình, ông ta đều đặt một ổ bánh kem làm hình một ngọn đồi và ghi chữ Charlie lên đó. (Chuyện này do chú Ðoàn Phương Hải khi về Việt Nam năm 2011 thuật lại cho tôi nghe).
Cha tôi đã sống như thế nào để một người Mỹ phải luôn khắc trong tâm khảm những hoài niệm như vậy?
Tôi chỉ có thể kết luận một câu: “Cuộc đời của Cha thật vĩ đại.”
Ngày hôm nay khi viết về Cha, tôi không biết viết gì hơn, chỉ xin dâng về hương hồn Cha một vài câu thơ nói về khí phách của Người và nơi mà Cha đã gửi lại thân xác vĩnh viễn cho núi rừng Charlie. Ở đây tôi xin dùng từ “Cởi áo trần gian” vì tôi tin rằng Cha vẫn đang khoác một chiếc áo khác và vẫn đang nhìn tôi từ một nơi rất xa...

Lặng lẽ ngàn năm chẳng danh xưng
Bỗng chốc một hôm hóa lẫy lừng
Charlie gầm thét trong lửa đạn
Gọi mãi tên người nước mắt rưng
Trai thời nỗi chết tựa trên lưng
Khí phách hiên ngang bước chẳng dừng
Charlie vẫy gọi người ở lại
Cởi áo trần gian tặng núi rừng
(Kính dâng tặng hương hồn Cha)
Sinh nhật mẹ tôi ngày 11 tháng 4. Trước khi hành quân vào Charlie ngày 25 tháng 3, Cha tôi đã đặt một chiếc bánh sinh nhật cho mẹ với lời hứa là sẽ về dự sinh nhật mẹ. Ðến ngày sinh nhật, mẹ đã không tổ chức mà vẫn chờ Cha về, và cho đến tận bây giờ mẹ vẫn chờ...
Tuy nhiên Cha đã thất hứa với mẹ vì ngày 12 tháng 4 Cha đã cởi áo trần gian và nằm lại vĩnh viễn với Charlie. Còn tôi, tôi chỉ biết hỏi là tại sao Cha lại không giữ lời hứa với mẹ tôi? Tại sao và tại sao...?
(28 tháng 5 năm 2012)

Người Ở Lại Charlie, Đại Tá Nguyễn Đình Bảo:


=======================================
Ước mơ 45 năm .(Việt Hùng/Người Việt)
QUẢNG TRỊ (NV) - Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.
tailieu809.jpg Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa khấn vái vong linh của chồng và cha trên đỉnh đồi 31, Hạ Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.
Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”
Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.
Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.
Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.

Ðường đến Hạ Lào

Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.
tailieu810.jpg Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa lần đầu tiên trong đời đi máy bay. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.
Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.
Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.
Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.
Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.
Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.
Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: – “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”
tailieu811.jpg Hai mẹ con khi vừa bước qua cửa khẩu biên giới Việt-Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.

Ðồi 31, nơi người lính không về!

Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.
Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết:
“Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”

Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”
Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác... Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.
Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”
tailieu812.jpg Ngôi miếu thờ trên đỉnh đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”
“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”
Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”
Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”
Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.
tailieu813.jpg Bà Mai đã lấy nắm đất trên đồi 31, nơi Ðại Úy Ðương hy sinh để mang về Việt Nam. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.
Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.

'Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam'

Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.
Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.
Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.
Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.

Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”
“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”
Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.
tailieu814.jpg Bàn thờ tạm trong ngôi miếu trên đồi 31, nơi bà Mai cúng vái vong linh của chồng cùng các tử sĩ VNCH.

Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”
“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”
Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à...”
Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.
Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn...
- “Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”
Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây.
Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”
tailieu815.jpg Hai mẹ con bà Mai thắp nhang khắp khu đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

“các anh đều đã hy sinh.

Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau

Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”
Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”
“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”
Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.
Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.
“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.
Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.
“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.



=====================================================

ANH THƯ NƯỚC VIỆT GIỮA BẦY QUỶ ĐỎ VIỆT CỘNG TẠI TIỆP KHẮC

Đây mới là lá Cờ Tổ quốc VN..."


Thật khâm phục.


tailieu797.jpg




**********************************************************************



------------------------------------------- 1

Tụng Giá Hoàn Kinh Sư
Bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt của Trần Quang Khải=





從駕還京 Tụng giá hoàn kinh sư

奪槊章陽渡,
擒胡菡子關。
太平須努力,
萬古此江山。

Trần Quang Khải

Tụng giá hoàn kinh sư

Đoạt sáo Chương Dương Độ [2]
Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái bình nghi nỗ lực [3]
Vạn cổ thử giang san

(Trần Quang Khải)


Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu

(Trần Trọng Kim dịch)

Bài thơ thuộc thể thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt của Trần Quang Khải.
Thượng tướng Trần Quang Khải đã từng có nhiều công lao nhất trong trận chiến sông Hồng thu phục lại đất nước.

We seized spears at Chương Dương Ferry [4]
We captured Huns at Hàm Tử Port [5]
In peace let us maintain our strength [6]
Forever shall live this nation.

Trần Quang Khải

The Mongols, although more barbaric than other Asian groups at the time, were awesome warriors. Cruel and belligerent, they were crackerjack archers and cavalrymen with great mobility. They knew only one kind of order -- the order of their leader. They would charge when so ordered even though they knew that the action would be fatal. Their ancestors were the Huns (Rợ Hồ or Hung Nô in Vietnamese). They were Buddhists, but they hardly understood the teachings of this noble religion (Phạm Văn Sơn 1960). That was the kind of enemies that our heroes of the Trần dynasty had to face.






"Saigonaises" Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn

Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ chí Minh. 1 Vì sao? Tro...