Showing posts with label Người Việt Hải Ngoại. Show all posts
Showing posts with label Người Việt Hải Ngoại. Show all posts

Thursday, October 15, 2020

Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt


Sean Le - Lính Mỹ Gốc Việt
https://www.youtube.com/channel/UCyrUYLnUvoZU0XoGrhsNpNA

 


Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt



❖ Phỏng Vấn Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt
https://youtu.be/qrFVyngqf00


Những người bạn trẻ, tinh hoa thế hệ của VNCH.
︻╦╤─


❖ Phỏng vấn sĩ quan trẻ Hải Quân Hoa Kỳ
https://youtu.be/iLo9iIuRHy4

︻╦╤─

❖ Phụ Nữ Gốc Việt đi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ
https://youtu.be/BafbVc3q71A

︻╦╤─


 

❖ Khi Phụ Nữ Gốc Việt Đi Lính Mỹ
https://youtu.be/OR7x2lXsBFo

︻╦╤─


 

❖ Hành Trang Người Lính Mỹ Khi Ra Sa Trường
https://youtu.be/9mrFDEkFM3k


︻╦╤─


 


❖ Tiêu Chuẩn Gia Nhập Quân Đội Hoa Kỳ!
https://youtu.be/cjCKa99P034

︻╦╤─


 


❖ Bạn muốn làm biệt đội tinh nhuệ Navy Seal?
https://youtu.be/aBPvlgbvalg

︻╦╤─



❖ Tìm hiểu khóa đào tạo sĩ quan OCS (Officer Candidate School) của Navy
https://youtu.be/25_BO9HikaQ

︻╦╤─


❖ Những Người Con Nước Việt
https://youtu.be/WeXK06Ynz1M

︻╦╤─


 

❖ Tết của lính! 2021
https://youtu.be/t474XIdhdeE

︻╦╤─

 

Sunday, January 26, 2020

Việt cộng ra sức XÓA BỎ GỐC TÍCH NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI...

Việt cộng ra sức

XÓA BỎ GỐC TÍCH NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI...





Tại Sao Việt cộng/cộng sản Việt Nam gọi chúng tôi là Việt Kiều, Kiều Bào, và tiền của chúng tôi là Kiều hối? 0:12

Tất cả những người luôn gọi chúng tôi bằng những mỹ danh rất đẹp nhưng đằng sau những mỹ danh đó là những hậu ý rất tàn ác.

Xưa nay các bạn vẫn đọc báo chí trong nước, các bạn vẫn xem truyền hình, và các bạn vẫn bắt gặp đâu đó rất là nhiều ở trong nước những câu như: Việt Kiều, hay là Kiều bào... Những chữ này thì báo chí của cộng sản Việt Nam thường dùng dành cho tất cả những người Việt ở hải ngoại chúng tôi sống bên ngoài Việt Nam. Và ở bên ngoài này thì tại sao chúng tôi lại không thích những chữ và danh từ đó.

Cái chữ "Việt Kiều" có gì đâu, và chữ "Kiều Bào" nếu dịch sát nghĩa thì có gì đâu mà chúng ta phải lo lắng những chữ này? Nhưng thật sự cái ẩn ý đằng sau những câu này: đó là một quá trình được xem là rất tàn ác đối với khối người Việt hải ngoại, do đó chúng tôi luôn né tránh và chúng tôi không bao giờ muốn gọi chúng tôi là "Việt Kiều" hay là "kiều bào" đâu. 1:16

Trước khi tôi (Trần Nhật Phong) giải thích những danh từ này và cái ẩn ý đằng sau lưng của họ đó thì chúng ta phải đi lại cái quá trình mà người Việt có mặt tại Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung. 1:26

Lấy dấu mốc từ năm 1975 sau khi mà cái cuộc chiến đã rõ nét, tức là phía cộng sản Việt Nam họ đã thành công trong việc dùng vũ lực chiếm toàn bộ miền nam Việt Nam. Khi đó những người Việt có mặt ở Hoa Kỳ cho đến giai đoạn này nó có nhiều giai đoạn khác nhau. 1:47

1- Giai đoạn tị nạn cộng sản, di tản nhân viên của chính thể cũ

Đầu tiên là cái giai đoạn di tản, tức là những người Việt kịp thời đi cùng với người Mỹ qua bên đảo Guam, là cái giai đoạn di tản. Thời điểm đó là thời điểm di tản khá nhiều. Khi mà di tản qua Guam xong giai đoạn đó rồi, thì giai đoạn thứ nhì kéo dài hơn mười năm, khoảng 15 năm. Đó là giai đoạn từ năm 1975 cho tới năm 1990 là giai đoạn vượt biên. 2:15

2- Giai đoạn vượt biên tị nạn cộng sản, nạn nhân của cộng sản

Hầu hết người Việt ra khỏi Việt Nam trong giai đoạn này đều vượt biển hoặc là vượt biên giới, tức là đi đường bộ đi qua Cam Bốt hay qua Lào v. v... và tìm cách qua Thái Lan. Hai cách mà người ta vượt biên hoặc là đi thuyền trên biển thì người ta gọi là "thuyền nhân", hay là người tị nạn.

3- Giai đoạn tù nhân chính trị "Human Operation" và Đoàn Tụ Gia Đình

Sau giai đoạn năm 1990, các cái trại tị nạn ở khu vực Đông Nam Á được xem là đóng cửa. Thì cái giai đoạn này chính phủ Hoa Kỳ mở lại các cái chương trình "Đoàn Tụ Gia Đình" cộng theo cái chương trình mới nữa, đó là chương trình "Human Operation" gọi tắc là chương trình "H.O." dành cho những người phục vụ trong chính quyền VNCH mà bị đi tù cải tạo trên ba năm thì họ có cái quyền được định cư tại Hoa Kỳ. H.O. được coi là chương trình tị nạn, chương trình này kéo dài suốt thập niên 1990. Đó là những giai đoạn người Việt có mặt tại Hoa Kỳ 3:10

4- Chương trình "những đứa con lai"

Bên cạnh đó thì trong giai đoạn 1990 còn có một diện nữa, đó là "những đứa con lai" tức là những người lai họ được đưa trở về Mỹ vì sau 1975 họ bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử ở Việt Nam. 5:08

5- Giai đoạn "du học sinh", bảo lãnh hôn nhân, đầu tư... di dân vì kinh tế, không còn tị nạn.

Sau cái giai đoạn 1990 rồi, qua tới giai đoạn 2000 thì tất cả những chương trình này không còn nữa, chỉ còn lại là chương trình bảo lãnh cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh chị em v. v... Bên cạnh đó đã bắt đầu xuất hiện của sự "du học sinh" và cũng bên cạnh đó, có những người tìm cách đến Hoa Kỳ bằng con đường đầu tư, di dân bằng du lịch, du học, hôn nhân... rất là nhiều, kéo cho tới ngày hôm nay. Tới giai đoạn mà những người Việt sinh sống ở Hoa Kỳ từ giai đoạn 2000 trở lại đây, phần nhiều là những người đi bằng máy bay, tức là họ đi bằng đường "di dân" bảo lãnh như bảo lãnh vợ chồng, con cái... không còn là "tị nạn" nữa.

Từ năm 1975 cho tới 2000 thì người Việt luôn có những câu là "Người Việt tị nạn cộng sản", người Việt tị nạn chính trị. 4:20

☛ Người Việt tị nạn cộng sản là những người trốn khỏi chế độ cộng sản bằng con đường vượt biên.

☛ Còn những người tị nạn chính trị tức là những người đi theo diện "Human Operation" gọi tắc là "H.O." là những người chứng minh bản thân của họ sau cuộc chiến năm 1975, họ đã bị phân biệt đối xử tồi tệ, bị nhà nước cộng sản đàn áp lấy nhà hoặc không cho họ cơ hội làm ăn buôn bán trong đây có các em con lai và cha / mẹ. Những người này là những thành phần được xem là "tị nạn chính trị". 4:54

Những giai đoạn được tôi chia ra để các bạn hiểu rõ:
● Người Việt có mặt tại Hoa Kỳ như thế nào.
● Và đi từ thời gian nào và ra sao.
● Và những câu như: Người Việt tị nạn cộng sản,
● Người Việt Quốc Gia,
● Người Việt tị nạn chính trị... nó xuất phát từ đó. 5:15

Về sau này sau năm 1990 khi mà chúng ta có nhiều thành phần khác nhau, kể cả việc bảo lãnh thân nhân (phần đông là gia đình của VNCH)... Thì chúng ta gộp chung lại và gọi "Người Việt Hải Ngoại".

Đây là những câu mà rất quen thuộc mà chúng ta thường nghe và chúng ta thường nói, chúng ta đã dùng câu nói đó suốt bao nhiêu năm nay.

Kể từ khi Việt cộng/cộng sản mở cửa ra thế giới bên ngoài, bắt đầu chính thức nhận những đồng tiền của người Việt ở bên hải ngoại gởi về cho thân nhân của họ ở Việt Nam để mà nuôi gia đình, bắt đầu từ đó chúng ta lại thấy xuất hiện những danh từ là: Việt kiều, Kiều bào, Kiều hối v. v.... trên các báo hầu như là hằng ngày, và ngay cả bây giờ trong ngôn ngữ, báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, đài trên Youtube trong nước Việt Nam mà cộng sản Việt Nam dùng trong cơ quan truyền thông của họ. 6:28

Bây giờ tôi phân tích cho các bạn biết tại sao cộng sản Việt Nam họ muốn các chữ: Việt kiều, Kiều bào... thay vì dùng các chữ chính xác những chữ, những câu mà người Việt ở hải ngoại chúng tôi đã trải qua và thân phận của chúng tôi. 6:40

Những người đi di tản 1975, vượt biên (thuyền nhân) 1975 - 1990 và những người tị nạn chính trị (H.O. 1990- 2000), chương trình con lai... Họ là những người tị nạn cộng sản, tị nạn chính trị, Con cái lính và quân đội đồng minh Việt cộng gọi họ là 'bọn phản quốc', 'bọn đi theo đế quốc' Việt cộng không gọi họ là 'Việt Kiều' hay 'kiều bào'. Chúng tôi tự nhận là người Việt Hải ngoại, để chỉ chung những người tị nạn cộng sản. Nay Việt cộng gọi chúng tôi là Việt Kiều hay kiều bào.

Đây là sự gian ác của cộng sản Việt Nam vì họ muốn xóa bỏ những vết tích thật sự của chúng tôi, những vết tích tại sao chúng tôi rời khỏi Việt Nam -- Việt cộng dùng chữ 'Việt kiều', 'kiều bào' để họ xóa dần vết tích "tị nạn cộng sản" đó đi. 7:20

TNP

===================================

Cũng dễ hiểu thôi. Tần Thủy Hoàng muốn xóa bỏ Bách Việt, cho đốt sách. Nhưng vì Bách Việt trong lòng Đại Việt Việt, Việt cộng là cánh tay nối dài của nhà Tần, nhà Hán, Việt cộng đốt sách VNCH giùm cho nhà Tần để triệt tiêu Bách Việt và Đại Việt vì Đại Việt trong lòng VNCH. Đốt sách, đập tượng, đổi tên đường, tỉnh lộ, trường học, thành phố, thủ đô, cải cách chữ viết... trong đợt thứ nhất sau 1975, với những cải cách chính tả, văn phạm, dấu giọng, ngữ vựng, câu cú, chữ nghĩa... để những chữ viết, câu văn trở thành lộn tùng phèo, mất đi cái ý niệm đúng sai của thời VNCH, và để chuẩn bị đợt thứ nhì cải cách tiếng Việt của ông tiến sĩ Hà Lội bây giờ, trước khi cho từng đợt di dân Trung quốc và Việt Nam.

Chúng ta không thấy từng đợt Việt cộng gộc và giàu chạy ra ngoại quốc có của, lắm tiền đi mua chuộc người Việt hải ngoại trong ngành truyền thông sao?

Truyền thông là cái huyệt hữu hiệu chôn sống người Việt hải ngoại vào chỗ u minh rồi chết dần.

========================================

Tội ác Việt cộng đối với người dân miền nam, quân, dân, cán, chính và cả dân tộc Việt.



Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam tại California, Hoa Kỳ


Tet parade 2020 - Người Việt Hải Ngoại

https://youtu.be/Eut0sN0b01c









Cùng đi thăm viếng Nghĩa Trang Thuyền Nhân và anh Lý Tống
https://youtu.be/jHYEd3XIisE


Văn hóa VNCH nay còn được duy trì ở các cộng đồng tỵ nạn tại Hoa Kỳ, Canada, Úc và một số nước khác.


3


Monday, December 2, 2019

Mừng Xuân Vui Tết - Xuân Hải Ngoại

Mừng Xuân Vui Tết - Xuân Hải Ngoại

Mừng Xuân Vui Tết - Xuân Hải Ngoại
 photo Ngagravey xuacircn_zpstijotkyr.jpg

Photobucket

 





Chúc

Mừng



Năm

Mới

Đinh

Dậu

2017

An

Khang

Thịnh

Vượng




 


 



 

Photobucket

 

 



Ly Rượu Mừng
1

2

3

4

5

Photobucket

Photobucket

Photobucket

 

 

1

 

 






      Năm

      mới

      hạnh

      phúc

      bình

      an

      đến





      Ngày

      Xuân

      vinh

      hoa

      phú

      quý

      về


 

 




        Xuân

        khắp

        mọi

        nơi,

        phúc

        khắp

        nhà


        Trời

        thêm

        tuổi

        mới,

        người

        thêm

        thọ

 

4

 




Thiên

tăng

tuế

nguyệt

niên

tăng

thọ





Xuân

mãn

càn

khôn

phúc

mãn

đường


 

Photobucket

Thú Vui Ngày Tết


">

Photobucket

 



cộng đồng
*************





hoitetsfv00.jpg
Xuân Tân Mão 2011 Los Angeles –


hoitetsfv02.jpg
Đội rước Quốc Quân Kỳ –


hoitetsfv02.jpg
Lễ chào cờ –


hoitetsfv04.jpg
Lễ dâng hương bàn thờ Tổ Quốc –


hoitetsfv03.jpg
Các vị trưởng thượng làm lễ dâng hương nơi bàn thờ Tổ Quốc –


hoitetsfv06.jpg
Đoàn lân Vovinam Lạc Hồng đang biểu diễn trong tiếng pháo rộn ràng mừng xuân –


hoitetsfv07.jpg
Các chú lân đến chào và nhận lì xì từ các gian hàng –


hoitetsfv08.jpg
Đoàn lân đang bái bàn thờ Tổ Quốc –


hoitetsfv09.jpg
Các em thiếu nhi trong đội Taekwondo vùng San Fernando Valley đang biểu diễn võ thuật –

 

 

Gieo Quẻ Đầu Năm
https://youtu.be/onRDzIkpQMs

 

 

Photobucket

 



CHIẾN SĨ CỦA MÙA XUÂN

Sáng tác: Xuân Tiên, Y Vân
Trình bày: Thái Thanh

 photo T242_1BongMai_ThanUngQLVNCH_023x023_zpsaceceeee.png  photo flower4_zpsw60vyys1.gif  photo T242_1BongMai_ThanUngQLVNCH_023x023_zpsaceceeee.png  photo flower4_zpsw60vyys1.gif

Mừng xuân tôi không quên đó đây
Bàn tay ai đang đắp xây
Ơ bàn tay mang bao niềm vui tới khắp nơi
Bao chiến sĩ lớp lớp trên vai
Bước đi non cao sông dài
Người là nắng tươi trong mùa xuân mới

Mừng xuân tôi không quên bóng anh
Từ lâu bao nhiêu mến thương
Ơ tình thương hai ta cùng lo giữ quê hương
Tay súng thép cứng giữa non xanh
Bước anh đi trên nhịp đàn
Có chim hót vang cho vui lòng anh

Mừng ngày nắng chói mừng đời sống mới hai ta cùng say
Mừng từ bóng núi mừng về khắp lối bốn hướng chung vui
Mừng câu hát dâng vơi đầy
Mừng muôn ý thơ xây đời
Mừng lên cây súng tương lai bàn tay

Mừng xuân tôi không quên chốn xa
Người đi trong muôn sắc hoa
Ơ cành hoa thương yêu đầy sương gió bao la
Sau tấm áo lớp sắc cây xanh
Khắp quê hương hay rừng già
Biết bao mến thương dâng trong mùa hoa.


 photo T242_CanhHoaMaiVang13_D_2013_154x120_zpspghzatel.png



 

 

Photobucket

 




NHỮNG MÙA XUÂN CHIẾN SĨ

của người lính VNCH



Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ, một sinh hoạt của người dân miền Nam gần như một truyền thống Tết để chia sẻ những gian nguy nhọc nhằn với người chiến sĩ cũng là những con em của mình đang phải chống lại với quân Cộng Sản phương Bắc.

Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ

Vào những năm trước năm 1975, sau “Tết Tây” là khắp các tỉnh thị miền Nam những khẩu hiệu “Vui Xuân không quên ơn các chiến sĩ” được dựng lên nhắc nhở mọi người bổn phận của mình. Không cầm súng ra trận để ngăn chặn bọn cộng sản xâm lược miền Nam được thì cùng góp tay nhau ân cần gửi đến những người chiến sĩ đang xông pha ngoài mặt trận để bảo vệ an ninh cho người dân miền Nam được an vui mà hưởng cái Tết vốn là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tết đến không chỉ là vui chơi hưởng thụ mà còn là dịp để con cháu nhớ đến ông bà tổ tiên, nhớ đến công lao giữ nước (Kỷ niệm chiến thắng Ðống Ða) của ông cha.

Người lính VNCH ngoài tiền tuyến “nếu mai (rừng) không nở anh đâu có biết xuân về hay chưa” (nhạc Trần Thiện Thanh) cảm thấy thật ấm lòng khi từ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ những tấm lòng người hậu phương gói ghém qua những gói quà nhỏ đã đến tận những tiền đồn hẻo lánh cho người lính được “ăn Tết.”

Người chiến sĩ VNCH có được 20 mùa Xuân, trong đó chỉ vỏn vẹn 4 mùa xuân là đầm ấm, hạnh phúc và thanh bình với gia đình trong những năm đầu của Hiệp Định Genève 1954.
Đó chính là những mùa Xuân Dân Tộc đích thực trong truyền thống nhân văn của mấy ngày đầu năm của miền Nam Việt Nam.

Bao nhiêu năm đã qua đi, người lính VNCH xưa từng ít khi được hưởng Tết trong không khí đoàn tụ của gia đình, nay cho dù có phải ở ngoài nước, yên ấm với người vợ hiền chung thủy, với những đứa con có đứa đã theo nghiệp binh đao như cha anh, nhưng vẫn không quên được những giây phút giao mùa trong Ðêm Trừ Tịch nơi chiến trường xưa, xúc động trước chiếc bánh còn ấm hơi người hậu phương, trước lá thư kín bốn trang giấy học trò của người em gái hậu phương chưa một lần gặp mặt.

Ba mươi chín năm đã qua, nhưng không khí “Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ” vẫn còn là hình ảnh đậm nét trong lòng một thế hệ mà nay đều đã trọng tuổi. Những “người em gái hậu phương,” những cô nữ sinh trinh trắng, những cô thôn nữ dịu hiền trên khắp đồng ruộng miền nam cặm cụi viết từng lá thư, gom góp từng đồng bạc quà sáng, tất tả trong các chợ Tết để mong có được một chút quà Tết cho những người lính chiến VNCH “Xuân này con không về” có được chút hơi ấm gia đình nơi tiền đồn heo hút hay trấn giữ trận địa mà địch quân lúc nào cũng có thể vi phạm lệnh hưu chiến mà cả hai bên đã đồng thuận để người dân Việt Nam được hưởng cái Tết trong thanh bình, nghe được tiếng pháo ròn tan thay vì “đêm đêm phải nghe tiếng đại bác” như nhà văn Nhã Ca đã viết. Những người lính ấy, có thể là người anh trong gia đình, người em vừa ra khỏi cổng trường trung học, người yêu chưa kịp cưới, người chồng vừa “cưới nhau xong là đi”... Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ là một hộp thư lớn gom góp biết bao ân tình giữa người hậu phương với người nơi tiền tuyến.

Khi Hồ chí Minh nhận lệnh của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản, năm 1959 họ Hồ đã cho thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh, tức đường Trường Sơn, để đem quân và vũ khí vào miền Nam Việt Nam, thực hiện bước đầu mộng nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á. Và đến năm 20.12.1960 khi công cụ ngoại vi của Cộng Sản Bắc Việt ra đời, thì chiến cuộc tại miền Nam bắt đầu leo thang... mãi đến ngày 30.4.1975.

 cành mai vàng Thời gian nầy những người chiến sĩ VNCH phải ghì chặt tay súng vào những ngày đầu năm, để giữ nét thanh bình về cho nhân dân miền Nam. Họ đã hy sinh dáng xuân của ngày đầu năm mới, để bảo vệ sự ấm áp cho đồng bào mình trong lúc mai vàng nở rộ và khoe sắc trên khắp nẻo đường đất nước.

Nhìn lại tất cả mùa Xuân từ năm 1954 đến năm 1975, thì người chiến sĩ Cộng Hòa mất mát rất nhiều những mùa xuân dân tộc, vì tình nước trên trên tình nhà.

Để bù đắp phần nào những mùa xuân đã mất trước 1975 và sau 1975 trong các trại tù cải tạo. Tôi xin mượn những ca khúc với chủ đề xuân, đễ gợi ấm lại lòng Xuân của những người chiến sĩ già các cấp của quân lực VNCH đang còn hiện diện khắp nơi trên quê hương VN hay đang còn nơi nào đó ở Hải Ngoại.

Mừng xuân Giáp Ngọ 2014, không quên nhớ về các thương phế binh, cô nhi quả phụ tử sĩ VNCH đang còn sinh sống cơ cực tại quê nhà, kính chúc các chiến hữu trong tình huynh đệ chi binh, anh chị, em… các cháu một năm mới đầy sức sống và niềm tin vững chắc vào ngày toàn thắng của người Việt tự do trên quê hương Việt Nam.

Ngày hội của dân tộc chắc chắn không còn xa nữa.

Những dịp Xuân về cũng là những dịp đốt nén hương lòng, tưởng nhớ đến công ơn của các chiến sĩ VNCH đã vị quốc vong thân trong các mùa xuân của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Nhớ đến các chiến sĩ Hải Quân. QLVNCH đã hy sinh trong trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19.1.1974.

Nhớ về những mùa Xuân chiến sĩ năm xưa...

Trinh Khanh Tuan, 16.1.2014

Photobucket


 

 


 photo b203_zpsb5crzdbp.gif  photo T242_CanhHoaMaiVang13_D_2013_154x120_zpspghzatel.png

 

https://youtu.be/wMITSyayeQg

 


 

https://youtu.be/mocveOlm758

 

 photo 295_197210_zpsukncrw9l.jpg

 

Photobucket
 photo Ngagravey xuacircn_zpstijotkyr.jpg
Photobucket

 



Lô Tô

Tết mà không nhắc đến trò chơi lô tô thì vẫn thấy thiếu sót.

Một vài quan sát về vè Lô Tô.

I. Số câu và số chữ trong mỗi câu.

Vè Lô Tô là một loại văn chương bình dân có nhiều tính cách truyền khẩu. Vè Lô Tô có vần điệu như những bài lý (Con Sáo, Ngựa Ô) hay những bài sớ Táo Quân. Căn bản của vè Lô Tô là liên khúc của cặp câu bốn chữ. Thí dụ:

Con gì ra đây
Tui bốc cờ ra.

Cờ ra con mấy
Con gì ra đây.

hoặc:

Lác khô đi trước,
lác ướt theo sau,

Hai lác gặp nhau
tha hồ mà gải..

Tha hồ mà gải,
Là con số bảy,

Cờ ra con mấy,
Con mấy gì đây.

Bỏ chung với nhau sẽ ra bài vè cho số 7:

Con gì ra đây
Tui bốc cờ ra.
Cờ ra con mấy
Con gì ra đây.
Lác khô đi trước,
lác ướt theo sau,
Hai lác gặp nhau
tha hồ mà gải..
Tha hồ mà gải,
Là con số bảy,
Cờ ra con mấy,
Con mấy gì đây.

II. Biến thể - Số chữ trong câu

Rất thường ta thấy câu bốn chữ biến thành câu năm chữ, nhưng khi hô vè người ta đọc nhanh hơn để có cùng nhịp điệu với câu căn bản bốn chữ. Sự thêm chữ này làm bài vè nghe thích thú hơn.

Con gì ra đây
Tui bốc cờ ra.
Cờ ra con mấy
Con gì ra đây.

có thể trở thành:

Con gì nó ra đây
Tui bốc con cờ ra.
Rồi cờ ra con mấy
Con gì ra đây.
...

III. Biến thể - Sự lặp lại

Cũng rất thường khi người hô bốc được con cờ nhưng chưa nhớ ra câu vè; hoặc chờ xem có ai giơ tay kinh không, anh ta dùng chiến thuật lặp lại để câu giờ.

Con gì ra đây
Tui bốc cờ ra.
Cờ ra con mấy
Con gì ra đây.

có thể trở thành:

Con gì ra đây
Tui bốc cờ ra.
Tui bốc cờ ra.
Cờ ra con mấy
Cờ ra con mấy
Con gì ra đây.
...

hay chung cả hai thêm chữ và lặp lại:

Tề Thiên Đại Thánh
ở động Thủy Liêm,
học được phép tiên
càn khôn quấy phá,
gặp Phật Như Lai
hóa phép bàn tay,
hóa núi Ngũ Hành
đè con khỉ đột.
Đè con khỉ đột,
Là con số 1.
Là con số 1,
rồi cờ ra con mấy.
Cờ ra con mấy,
con mấy gì đây,
con số gì đây.
...

Sự lặp lại thường thấy với mục đích xác nhận con số:

...

Con gì nó ra đây
Con ba mươi hai
Con ba mươi hai
Là con ba con hai.

...

Theo dòng nước chảy
là con bảy mươi bảy
Con bảy mươi bảy
là hai con bảy.

IV. Cách gieo vận

Ngôn ngữ Việt có nhiều nhạc tính, vì vậy bài lục bát nào tự nhiên cũng là bài hát rồi. Vè và lý cũng vậy. Vè Lô Tô không có qui luật gì về cách gieo vận nhưng nếu có vận bài vè nghe thích thú hơn. Vì vậy người đi đánh Lô Tô phần đông chỉ để nghe hô vè, chứ mục đích được thua chỉ là chuyện phụ. Quan sát những câu vè ta thấy cả hai lối yêu (gieo vần giữa) và cước (gieo ở cuối câu).

1. Yêu vận "ấy" như:

Cờ ra mà con mấy,
Chưa thấy con cờ ra
Tui bốc con cờ ra,
Rồi cờ ra con mấy?
...

2. Cước vận như:

Lô tổ, lô tô,
quý cậu quý cô.
Muốn chơi lô tô
thời nghe mà cho kỹ.
Nghe mà cho kỹ
kẻo mất con cờ kinh.
Lỗi ấy tại mình.
đừng trách tui mà hô lộn,
Vòng cầu đã quay trộn,
tui bốc con cờ kinh.
Con số gì đây,
con gì nó ra đây.
...

V. Vận bắt buộc

Vần bắt buộc là vần gieo vào con số. Hình như đây là luật thơ duy nhất của vè Lô Tô. Vận bắt buộc này tuy không cố ý nhưng cũng có lý do là tăng thêm sự thích thú cho người đánh Lô Tô đoán con số gì sẽ ra dựa trên vần của bài vè:

...

Tha hồ mà gải,
Là con số bảy.

...

Vừa khóc vừa la,
Là con số ba.

...

Em vội cuốn mền,
em xách chiếu theo ai,
Em xách chiếu theo ai,
là con ba mươi hai.


Nguồn

 


Hãy xem người Việt hải ngoại chơi lô tô trên internet nhé.

vinhnguyen . trả lời . . . e
TT xin kêu:

Tại hạ xin thưa
Kim Chi Bà Bà
Đốc Tờ Hoàng Dung
Anh Dũng, anh Nhung
Thợ Dán, Vinh Quang
Anh Khánh, Reno
07, James Thành
Anh Thien, thơ thẫn
Cùng cô chủ quán
Với thầy đồ Bão
Cộng LND
Anh Hiển Cali
Chị Hài thủ quỹ
BL nhí nhảnh
Tất cả Đồng Môn
Cho đệ kêu số:

Số 37, Số 38, 39 Số 41

Có ai trúng chưa
Nếu chưa ai trúng
Thì cứ hô to
Tại hạ xin Bye
Trở lại hôm sau
Kêu thêm vài số.

Sat Jun 03, 2006 5:42 pm 5050 gianguyen . trả lời . . . e
________________________________________
60

Tháng Sáu trời mưa
Trời mưa không dứt
Ông ơi! Trời ơi!
Xin lạy ngừng mưa
Kêu sáu kêu không
Là số sáu mươi

74
Cờ Mỹ tung bay
Mừng ngày độc lập
Diễn hành khắp nơi
Hót đóc bơ gờ
Tháng bảy ngày bốn
Là bảy mươi bốn

Bớ.... CCQ, kiu Lô Tô típ đi chứ để còn làm chiện khác.

88

Bớ Tám mà chi
Xin tha cho Tám
Chị Kim Chi ui
Lô tô khó lắm
Kêu tám kêu tám
Là tám mươì tám

Sun Jun 04, 2006 9:17 am 5052 Be8 . trả lời . . . e
________________________________________

Sun Jun 04, 2006 12:11 pm 5054 vinhnguyen . trả lời . . . e
________________________________________

Sáu mươi ngày nữa
Lại gặp nhau rồi
Anh Chiểu "tròn tròn" ơi
Đủ thời gian để...diet
Để xinh như số một
Có eo như số tám
Kêu tám, kêu một
Là số 81

smile

Mon Jun 05, 2006 3:54 pm 5068 bichloc . trả lời . . . e
________________________________________
LND đề nghị:

ACE à, bây giờ chẳng còn bao nhiêu số nữa, vậy thì ACE ráng giúp dùm cho đủ bộ rồi đến ngày họp mặt chúng ta sẽ chơi Lô tô, chịu chưa? Đề nghị ban tổ chức kiếm vài món quà kỷ niệm để làm giải thưởng cho cuộc hô Lô Tô hôm đó còn tiền bán vé sẽ hoàn lại tiền chi phí hoặc xung vào quỹ ACE nghĩ sao?

--- Lô Tô --- Lô Tô --- Lô Tô ---

00. LND

Thứ Nhất đàn bà
Thứ Nhì Mèo Chó
Thứ Ba Hoa Cỏ
Đàn ông... chiện nhỏ
Chiện nhỏ cái mà Chiện nhỏ
Coi như không có
không có, không có
là con số không
Hai con số không
Double zero đó

00.
Hiển Nguyễn

Em thì có chồng
Anh đã có gông
Tình có như không
Đó là con số 0

01.

Vinh Nguyễn

Khủng long tuyệt chủng
Bởi chúng dữ dằn (?)
Cọp hãy biết điều
Coi gương họ khủng
Không còn một mống
Con không con một
Là con số một

02.
Kim Chi

Gặp anh cái chuyện
Cái chuyện tình cờ
Anh hôn là chuyện
Là chuyện bất ngờ
Bất ngờ không hay
Số không, số hai

Kêu con số hai 02. Vinh Nguyễn
Ai muốn đổi dóp
Để được lên lương
Nhưng mà dễ dướng
Dào đường lây óp
Lây óp lây óp
Là lại trắng tai
Kêu con số hai
Số hai số hai

03.

Kim Chi
Đôi ta hổng duyên
Nhưng thật là nợ
Khi chiều ra chợ
Có đứa kêu ba
Ba ơi, ba... hỡi là papa
Kêu con số ba
04.

Kim Chi
Cọp lớn tốn cơm
Mèo con tốn bạc
Cả hai đều... tốn
Kêu con số bốn.

05.

Kim Chi
Ví dầu gạo thổi
Gạo thổi thành cơm
Anh không ăn nữa Đổ thừa cho ai....
Anh Hai hay anh Năm
Kêu con số năm.

06.

Kim Chi
Gà tồ đi trước
Gà mái theo sau
Kêu con số sáu
Số sáu, số sáu

07.

Hiển Nguyễn
Khi xưa anh khờ
Nên đành phải chờ
Chờ hoài chờ mãi
Ai cũng tưởng khùng
Bảy ngày đợi mong
Là số gì đây
Đó là số 7

08.

LND
Tất cả mọi chiện
Đều là chiện nhỏ
Tất cả đều bỏ
Ngoại trừ "dzợ nhỏ"
Đầu to đầu nhỏ
Là con số Tám
kêu con Tám nè....

08.

Hiển Nguyễn
Tìm về chốn cũ
Em đã ra đi
Đếm lá vàng rơi
Đã 8 mùa Thu
Đó là số 8

09.

10.

Kim Chi
Hàm răng cải mả
Anh gắn thêm vàng
giả Tui qua xứ lạ
Còn nhớ hàm răng,
Tới hàm răng anh
cười Đây con số mười
Kêu con số mười

11.

LND
Mắm gừng kèm theo
Với rổ rau sống,
Bắp chuối hoa hòe,
Thêm rau tía tô,
Mời dzô, mời dzô
Ăn Một tặng Một
Là hai con một

12.

Kim Chi
Thương em sao anh hổng về
Về thưa tía má Mang cau trầu qua ngả nhà em
Để nay trăng rụng quá thềm
Câu ca ngày đó mềm môi ai hò
Câu hò mềm môi ai
Con một con hai
Là con mười hai
Kêu số mười hai

12.

Vinh Nguyễn
Nhưng mà thỉnh thoảng
Choảng nhao bể đầu
Bể đầu bể đầu Bể đầu dẩng dui Đít đui đít đui Là mười mười hai Mười hai mười hai 13. Kim Chi Ngày xưa anh thẹn Nên hổng có hẹn Hổng hẹn nên tình xa Tình xa, tinh xa Kêu số mười ba Mười ba, mười ba 14. Kim Chi Anh đi anh nhớ Anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống Nhớ cà dầm tương Anh đi anh nhớ Anh nhớ anh thương Cô em mười bốn Gió sương đợi chờ.... Em mười bốn Số một, số bốn Kêu số mười bốn 15. Kim Chi Con gái má hồng Kén chồng ở rể Ở rể mười năm Con một con năm Là con mười lăm Con một con năm 16. Vinh Nguyễn Số có mười con Mỗi con một vẻ Con gầy que tăm Là con số một Con tròn hột mít Có móc ở trên Chính là con sáu Một sáu mười sáu Mười sáu mười sáu 17. Hiển Nguyễn Anh tuổi mười bảy Học đòi yêu đương Nên đành đau thương Từ chết đến bị thương Thương cho số 17 Đó là số khổ 17. Kim Chi Con gí sắp ra Là con sáo xậu Con sáo sổ lồng Con sáo nó bay Con sáo nó bay Là con mười bảy Con một con bảy Kêu số mười bảy 18. Kim Chi Hỡi cô tát nước Tát nước bên đàng Sao cô mà múc ánh Ánh trăng vàng đổ đi Trăng vàng mười lăm Cô em đà mười mấy Em mười tám đấy Số một, số tám Kêu con mười tám 18. Hiển Nguyễn Ngày anh ra đi Em 18 trăng tròn Con số 18 Thật là dễ thương 19. Kim Chi Gặp chàng em mới mười lăm Chờ đôi năm nữa tình ta chín mùi Chín mùi, mười chín Kêu số mười chín 20. Kim Chi Anh đường anh, tôi dường tôi Tình nghĩa đôi ta Có thế thôi Hai ta cùng thôi, là hai con mười Hai con mười Kêu số hai mươi 21. Vinh Nguyễn Hai mươi cộng một Là hai mươi mốt Kêu số hăm mốt Hăm mốt hăm mốt 22. Thành Bùi Rùi cờ ra con mấy,

tui bốc con cờ ra Con gì nó ra đây, rùi cờ ra con mấy con mấy cờ ra Nhậu xỉn lai rai, bị đói dài dài là con số hăm hai Hăm hai là hai con hai, con gì nó ra đây. 22. Hiển Nguyễn Khi em đã hiễu Thì đã lỡ làng Cuộc tình 2 ngã 2 đứa 2 nơi Đó là số 22 23. LND Lưỡng quốc đồng môn Với Lão Ngoan Đồng Là Mít tờ Đan Đã sanh cùng tháng Lại đẻ cùng ngày Hăm ba tháng ba là con Hai mươi ba 23. Vinh Nguyễn Nhận đại là ba Nhưng mà hổng giống Con cái nhà ai Hi ba, hi ba!? Là hai mươi ba 24. Kim Chi Năm anh hai mươi Em mới sinh ra đời Ngày anh bốn mươi Em cũng vừa đôi mươi Hai mươi, bốn mươi Số hai, số bốn Kêu số hai mươi bốn 25. Kim Chi Anh đi miền xa Em ngồi ôm bóng trăng tà Bóng trăng tà nhớ ai Chờ tới hai năm Con hai với con năm Là con hai mươi lăm Con số hai mươi lăm 26. Vinh Nguyễn Xưa ngực anh nở Và bụng anh thon Tóc dài quá vai... Trải nhiều năm tháng Vẫn thon vẫn nở Nhưng ngực thì thon Còn bụng thì nở Người anh mập tròn Tóc còn vài cọng Trông anh rất giống Như con số sáu Kêu hai mươi sáu 27. Kim Chi Con trai mười bảy Bẻ gãy sừng trâu Con hai con bảy Là con hai mươi bảy 28. Vinh Nguyễn Nhớ dáng em xưa Mình hạc xương mai... Qua bao năm dài Hình hài thay đổi Anh nhận không ra Vì giờ em đã Đẫy đà to lớn Nhưng vẫn còn eo Trông như số tám Kêu hai mươi tám 29. LND Bún ốc nóng hổi vừa thổi vừa ăn, Ốc hương được mùa Xào vừa chín tới Lám tới hai tô Con Hai con Chin Là con Hai mươi chín

30. Kim Chi Chiều chiều ra ngõ Ra ngõ ngóng trông Thấy con ngõ trống Mà không thấy người Không thấy người, Là đêm ba mươi Kêu số ba mươi 31. Vinh Nguyễn Năm hai mươi tuổi Đời toàn màu hồng Chưa hẳn vào đời Cầy sâu cuốc bẫm Và đã biết yêu Yêu con băm mốt 32. Thành Bùi Con gì nó ra đây, tui móc con gì ra, Con gì tui móc, tui móc cái con ba, Con ba gì đây là con ba giầy đi. Công cha chưa trả, Nghĩa mẹ chưa đền, Em vội cuốn mền, em xách chiếu theo ai, Em xách chiếu theo ai, là con ba mươi hai, Ba mươi hai là ba mươi con hai, 33. Vinh Nguyễn Nhưng nếu mà ta Thành đôi thành lứa Biết đâu là nợ Mà chẳng là duyên Ba ba ba ba Ra số băm ba 34. Kim Chi Yêu em anh chẳng Chẳng ngại gần xa Một ngày không gặp Bằng ba bốn ngày Số ba, số bốn Kêu số ba mươi bốn 35. Khanhhq Con dê xồm.. Đầu thai thành đàn ông Là con ba mươi lăm Ba mươi lăm là con ba, con năm

35. LND Ba mươi năm dài Mới gặp lại nhao dui góa dui góa Con ba con năm Kêu số băm lăm 35. Thiên Nguyễn Lẳng lặng mà nghe, tui bốc con cờ ra Cờ ra con mấy, con mấy cờ ra Con dê nó hí là con ba mươi lăm Ba mươi lăm là con ba con năm 36. Vinh Nguyễn Năm ba mươi tuổi Sao đời bớt hồng Tương lai bớt rộng Tam thập nhi lập Nhưng đời trăm nhánh Biết theo ngã nào -Theo đường ba sáo! 37.38.39. 40. Vinh Nguyễn Tứ thập bất hoặc Đường đã phải định Vũng bước mà đi Nhưng lập chưa xong Làm sao cất bước Lòng mãi hoang mang Lạc tới bốn mươi 41.

42. Vinh Nguyễn Năm hăm bốn tuổi job thơm xe mới Nhà băng rủng rỉnh Tương lai rộng mở Hai bốn bốn hai 42. LND Cô Đốc Hoàng Dung Chuyên xúi dại không! Nhưng mà tốt bụng Lại có nhiều tài Con Bốn con Hai Là con Bốn Mươi Hai

43. Kim Chi Bao năm xa xứ Anh vẫn còn là bôn ba Con bốn với con ba Là con bốn mươi ba

44. Kim Chi Con gì lột đột Là hai con bốn Con số bốn mươi bốn Số bốn số bốn 44. LND Cô chủ quán ơi Lô tô kêu chơi Tiền giao cô giữ Nếu anh lau bàn...cái mà lau bàn Mượn đỡ đi chơi Nhớ về chung đủ Không thì hết vốn Con bốn hết vốn Là con Bốn mươi bốn 45. LND Em theo chồng sớm Anh bận lang thang Bốn phương tám hướng Đời chưa định hướng Đã vướng một em Là con Bốn mươi lem

45. Kim Chi



Em đi theo chồng Anh tiễn qua sông Anh thành con số không Buồn đến trăm năm Số bốn, số năm Kêu số bốn mươi lăm

46.

Vinh Nguyễn Ai ở đâu xa Ngày tư ngày tết Ráng lết về nhà Đừng như con sáo Con sáo sang sông Không thèm ngó lại Con tư con sáo Kêu bốn mươi sáo

47. LND

Cali phở ngon Người Cali dòn Vậy mà chưa còn Ghi tên tham dự.... cái mà tham dự Con Bốn thật bự Con Bốn gì đây Con Bốn thân gầy Là con Bốn mươi bẩy

48. 49.

50. Kim Chi

Ước gì sông rộng
Sông rộng một gang
Bắc cầu yếm lụa, yếm lụa
Cho chàng qua chơi
Qua chơi....năm mười
Kêu số năm mươi

51. Vinh Nguyễn

Đầu năm tới giờ
Mới có ngày nghỉ
Bà con chăm chỉ
Đi chơi một mạch
Suốt ba ngày liền
Con năm con một
Kêu năm mươi mốt

52. Kim Chi

Trời mưa bong bóng
Bong bóng phập phồng
Con đi lấy chồng
Mẹ ở vói ai, ở với ai
Là con năm mươi hai
Con năm con hai

53.

Vinh Nguyễn

Năm xưa "em chả"
Bởi chẳng biết gì
Nhưng bây giờ thì
Mùi đời đã trải
Dại gì "em chả"!
Ra số năm ba Hô năm mươi ba

54.

Hiển Nguyễn Phở Cali rất ngon Nhất là khu Westminster Đường nào cũng có Tái bê tái nạm Gân sách vè dòn Anh Năm chị Tư Hãy ghé đến ăn Con số gì đây Là con số 54 Gọi tô phở 54 55. Kim Chi Úi dà, chén trà Thái Đức Vui thú thanh tao Sao còn ngầy ngật Tui thấy anh Năm Ngủ gà, ngủ gật Anh Năm, anh Năm Kêu số năm mươi lăm 56. Vinh Nguyễn Ngũ thập thấp thóang Lập vẫn chưa xong Lòng còn nghi hoặc Chuyện tri thiên mệnh Chỉ đùa cho vui Chui vô năm sáu 57. LND Mắm tôm, chanh ớt Ớt hiểm xé môi Mờ ăn ít thui Hông là giống môi của chú Vinh đó! Con Năm không có Con Bảy nhào dzô Là con Năm mươi bảy 58. LND Ngày xưa lỗi hẹn Ngày xưa còn thẹn Nên phải âm thầm Tiễn người sang sông Ngày em cất bước theo chồng Là ngày anh đã thề không... gặp người Nhưng mà thôi, mà thôi Mùng năm tháng Tám Xin anh hãy ráng Con Năm con Tám là con Năm mươi Tám Con Năm mươi Tám 58. Hiển Nguyễn Tưỡng rằng là không Không ngờ hạnh ngộ 26 năm không gặp Mùng 5 tháng 8 Bạn bè gặp nhau Biển xanh hội ngộ Con số 5 và số 8 Là con số Năm mươi Tám 59. Kim Chi Chiều chiều mang vó ra khơi Lưới vài ba mẻ tặng cho bạn hiền Biếu không ta chẳng tính tiền Rượu ngon không có bạn hiền Không có bạn hiền thời... không ngon Chú C5, cô Chín Con năm, con chín Kêu số năm mươi chín 60. Bé8 Tháng Sáu trời mưa Trời mưa không dứt Ông ơi! Trời ơi! Xin lạy ngừng mưa Kêu sáu kêu không Là số sáu mươi 61. Hiển Nguyễn Cali chiều thứ 6 Tìm tô bún bò Gân huyết thật ngon Thì đã có Bolsa Góc đường Brookhurst McFadden Bún Bò Số 1 Cạnh quán Phở 54 Thứ Sáu bún bò Tại quán Số 1 Con số gì đây Là con số 61 62. Kim Chi Hôn em anh muốn Muốn giữ lấy hơi Sớm mơi lên đàng Lên đàng anh nhớ Anh nhớ tới ai? Tới ai? Con Sáu, con Hai Kêu số sáu mươi hai 63. Vinh Nguyễn V hò lô tô Số đâu chẳng thấy Cóc lại nhảy ra Thiệt là ngang trái Hồn thơ chạy bậy Qua hồn lô tô Như bị ma rượt Ra sáu mươi ba Sáu ba sáu ba 64. Vinh Nguyễn Đời lắm bất ngờ Lên voi xuống chó Chỉ là chuyện nhỏ Con bốn con sáu Thay bậc đổi ngôi Là ra sáu bốn Kêu sáu mươi bốn 65. Kim Chi Nước mía Viễn Đông Mát lòng quân tử Bụng đầy những chữ Túi có tiền không? Sáu đồng năm mía Kêu số sáu mươi lăm 66. Kim Chi Người dưng khác họ Ước ở chung nhà Khi xa thời nhớ Khi gần thời thương Đêm nằm vắt trán Vắt trán là tương tư Ai ơi có biết có thương tôi sầu Hai sầu là hai con sáu Con số sáu mươi sáu 67. LND Đi ngang chợ Đũi Làm tô Hũ Tiếu Thêm cái bánh Tiêu Nhưng vẫn còn thiếu, Cái mà còn thiếu... Thôi thì ghé lại bún riêu Làm thêm tô nữa đến chiều tính sao Tính sao.....là con số sáo Con sáo gì đây Con Sáo nhảy dây Là con sáu mươi bảy 68. Kim Chi Chị Tư số bốn Anh Sáu rầu rầu Em ơi anh muốn Thêm một em Tư Chị Tư ứ ử Tui nay tên Tám Anh Sáu, chị Tám Kêu số sáu mươi tám 69. Vinh Nguyễn Đời có hai con Quay đầu lộn ngược Nằm úp vào nhau Nhiều người rất thích Rất thích rất thích ..... Chớ đừng nghĩ bậy Đó là con sáu Con sáu quay đầu Thì ra con chín 69 69... 70. Kim Chi Anh bỏ lời thề Lời thề chẳng gặp Mới vừa một chặp Đã gọi...người ơi Ới người, kêu số bảy mươi 71. 72. Vinh Nguyễn Tương lai thế nào Chắc phải đón coi Hồi sau mới rõ Hồi sau là lúc Tuổi bảy mươi hai 73. Kim Chi Yêu chồng thời nấu cháo Nấu cháo ba ba Nấu canh thiên lý Canh thiên lý ngọt nồng tình ta Tình ta, tình ta Yêu nhau đến già Con số bảy ba Kêu số bảy mươi ba 73. Thành Bùi Lẳng lặng mà nghe, tui bốc con cờ ra Cờ ra con mấy, con mấy cờ ra Dòng sông nước chảy là con bảy mươi ba Bảy mươi ba là con bảy con ba. 73.
Vinh Nguyễn
Anh đây kẹt vợ Em đà có con
Khó lòng ráp lại
Con bải lại ra Con ba lại tới Kêu bảy mươi ba 74.

Bé8

Cờ Mỷ tung bay Mừng ngày độc lập Diển hành khắp nơi Hót đóc bơ gờ Tháng bảy ngày bốn Là bảy mươi bốn 75. Bé8 Một năm đáng nhớ Khắc sâu trong lòng Bao kẻ tha hương Ôi thôi bảy ơi! Quên dùm em năm... Số bảy, số năm Kêu số bảy lăm 75. Vinh Nguyễn Ba chìm bảy nổi Lên tàu xa xứ Làm kẻ tha hương. Một năm đáng nhớ Khắc sâu vào lòng Mãi mãi chẳng quên Có bảy có năm Hô bảy mươi lăm 76. 77. LND Tinh Tú Lão Gia Thứ bảy trong nhà Cả trẻ lẫn già! Tú đều yêu hết Vì thế mới chết Thất tình Thất bại Là hai con bảy Con Bẩy mươi Bẩy 78. 79. Kim Chi Qua cầu than thở Than thở cùng cầu Cầu bao nhiêu nhịp Dạ sầu bấy nhiêu Cô Bảy qua cầu Anh Chín ôm sầu Cô Bảy, anh Chín Kêu số bảy mươi chín 80. Bé8 Gia đình đông anh em Em của bảy, chị của chín Dzậy là thứ tám...

Thích nhạc Vũ Thành An
Những bài không tên
Số tám, số không
Kêu số tám mươi 80.

Vinh Nguyễn

Nhà đông anh em
Sinh sau đẻ muộn
Nhưng mà trước Chín
Nên kêu Bé Tám
Ưa nhạc họ Vũ
Thích bài không tên
Số Tám số không Kêu
số tám mươi

81.
Bích Lộc

Sáu mươi ngày nữa
Lại gặp nhau rồi
Anh Chiểu "tròn tròn" ơi
Đủ thời gian để... diet
Để xinh như số một
Có eo như số tám
Kêu tám, kêu một Là số 81

82. Kim Chi Nụ hôn ban đầu Đong sầu trên má Năm ngón tay mềm Còn in lên tai Tai ai? Ai tai! Kêu con tám hai Số tám mươi hai 82. LND Cali họp mặt Tình thân thắt chặt Thắt chặt cái mà thắt chặt Vé đã đặt chưa Ghi tên là vừa Là con Tám Hưa Con Tám con Hưa Con Tám mươi Hưa! 83. Kim Chi Thương em mà anh không nói Không nói ra Đến khi về già Tới tuổi tám ba Con tám con ba Kêu số tám mươi ba 83. LND Nắng ấm tình nồng Những cô có chồng Những anh có vợ Hãy còn thiếu nợ, Cái mà thiếu nợ Nay mau về trả Con Tám con Ba Là con Tám mươi Ba 84. 85. Vinh Nguyễn Bà Tám nói nhiều Ông Năm nói ít Nhưng mà hai người Thiệt là khắng khít Khắng khít cái mà khắng khít Con tám con năm Kêu tám mươi lăm Tám lăm tám lăm 86. 87. 88. Bé8 Bớ Tám mà chi Xin tha cho Tám Chị Kim Chi ui Lô tô khó lắm Kêu tám kêu tám Là tám mươì tám 89. 90. Kim Chi Bún bò Hồng Phúc Đỏ trái ớt cay Em Chín, chú Năm Vừa ăn vừa thổi Bún bò nóng hổi Hết chín, mười tô Số chín, số mười Là con chín mươi Kêu số chín mươi.

--- Lô Tô --- Lô Tô --- Lô Tô ---

Tue Jun 06, 2006 6:50 am 5092 DAN . trả lời . . . e ________________________________________

38

Lấy chồng từ thuở
Thuở mười ba
Đến năm mười tám Thiếp đà năm con
Mười ba, mười tám Con ba,
con tám Kêu số ba mươi tám
9 Trăng mười lăm tròn như trái quýt Anh vẫn nhớ hoài mùi trái chín năm xưa... hehehe Quýt thơm, vừa chín Trái chín, tình cũng vừa chín Kêu con số chín.

41

Một rằng thương,
hai rằng thương
Có bốn chân giường,
gẫy một còn ba
Úi chu choa
Có bốn thời mất một!
Số bốn, số một
Kêu số bốn mươi mốt

86

Cali đi dễ, khó về
Mùng sáu tháng tám rủ rê bạn hiền
Cùng nhau tâm sự hàn huyên
Bao năm xa cách miên man đêm dài
Tháng tám, mùng sáu Số tám,
số sáu Kêu số tám mươi sáu

37

Trai khôn tìm vợ
Tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng
Tìm chồng giữa chốn
Giữa chốn ba quân
Chồng ở chốn ba quân
Số ba, số bảy
Kêu số ba mươi bảy

78

Yêu nhau cởi áo Cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ Qua cầu gió bay
Gió bay ơi gió bay Con tám,
con bảy Con bảy
rùi con tám Kêu số bảy mươi tám

89

Hỡi anh kể chuyện yêu người
Sao chưa nói hết những lời năm xưa
Mà sao cứ mãi cù cưa
Tám trăng tôi đợi,
chín mưa tôi chờ
Tám mùa trăng,
chín mùa mưa
Con tám, con chín
Kêu số tám mươi chín

71

Kêu chú C5 HQ 21 C5-2-1 Con bảy,
con một Kêu số bảy mươi mốt

87

TT nói bye
Mai này trở lại
Không hề ngần ngại
Em Tám trở dzô
Kêu giùm anh Bảy
Em Tám, anh Bảy
Số tám, số bảy
Kêu con tám mươi bảy

Tue Jun 06, 2006 1:15 pm 5100 kimchi . trả lời . . . e
________________________________________ V

thử đưa tên bà con vô nhưng vẫn không được. Đến giờ chỉ mới có LND, TTLN, và Lộc là làm được thôi...:-)

48

Xưa Nguyễn Tất Nhiên
Tình mới hai năm
Đã than lận đận
Đã thở hư hao
Rao con bốn tám

49

Còn khối tình ta
Ba mươi năm quá
Lời nào để nói
Lời nào để than?
-Ban cho bốn chín

84

Dù Nguyễn Tất Nhiên
Đội mồ sống dậy
Cũng đành bó tay!
Đây ra tám bốn

Tue Jun 06, 2006 2:07 pm 5101 vinhnguyen . trả lời . . . e
________________________________________

39

Bài cào ba con
Cùng nhau bài bạc
Anh Vinh số bù
Chú Chiểu năm nút
Anh Hiển tám nút
Vẩn thua... Chị Hạnh
Chín nút vớt trọn
Kêu ba kêu chín
Là ba mươi chín

76

Anh Dũng than rằng:
Mèn ơi khổ quá!
Vật giá leo than
Thiếu tiền đổ xăng
Nên kiếm chàng Bảy
Kèm theo em Sáu
Con của Phi Líp
Kêu bảy kêu sáu
Là bảy mươi sáu

Tue Jun 06, 2006 4:07 pm 5107 Be8. trả lời... e
________________________________________

Cô chủ mới dợt có hai ba ngày mà kêu lô tô prồ quá hén... :-)
Tue Jun 06, 2006 4:30 pm 5109 vinhnguyen . trả lời . . . e
________________________________________

EUREKA, EUREKA... mình kinh rùi bà con ui. Hat's off to cô chủ quán dzà thợ dzán nghe, mới tập thui mà kêu nhiễn nhừ hà, còn lẹ hơn tui húp chè đường nữa đó.

Cheers!
kc

Tue Jun 06, 2006 4:39 pm 5111 kimchi . trả lời . . . e
________________________________________

Ủa, mình kinh hàng số mấy vậy KCBB?
Tue Jun 06, 2006 4:54 pm 5112 vinhnguyen . trả lời . . . e
________________________________________

Vinh ui, mình có đủ số từ 00 tới 90 rùi, hổng biết nói tiếng "nhà nghề" có phải lờ "kinh" hông, chắc mình... kinh mọi hàng quá. Kc hổng rành mấy về lô tô nên bữa hổm kêu tới số 100 lận, nhờ LND nên mới biết dừng lợi ở số 90 đó.

Have a nice day, ACE!
kc

Tue Jun 06, 2006 5:02 pm 5113 kimchi . trả lời... e
________________________________________

Như vậy hội ngộ Cali. kỳ này hứa hẹn là sẽ hấp dẫn với những cao thủ về lô tô, bài cào, bài xập xám.
Như vậy ban tổ chức sẽ phải mang mấy bộ bài và poker chips tới đó.

Hôm nay phải kêu số 66 mới trúng jackpot vì là tripple-six date
(6/6/6).

Tue Jun 06, 2006 5:06 pm 5114 HienNguyen . trả lời . . . e
________________________________________

71

Thứ bảy lang thang
Trên con đường nhỏ
Tới quán Về Nguồn
May gặp anh Bảo
Tặng vòm trời mơ
Bằng vài dòng thơ
Mơ Cali hội ngộ
Nối vòng tay lớn
Kết chặt tình thân
Xây cột tình thương
Cây cột số một
Kêu bảy kêu một
Là bảy mươi mốt

87

Đã tám ngày qua
Đã bảy đêm liền
Lô tô ơi hỡi!!
Cả ngày lẩm nhẩm
Ngủ cũng thấy mi
Tay chân quờ quạng
Giật mình tỉnh giấc
Mừng quá kêu to
Bing gồ! Bing gồ!!!
Kêu tám kêu bảy
Là tám mươi bảy

Hình như còn hai con số trên nữa chị KC à. Bậy giờ thì CCQ thở phào nhẹ nhỏm.. xong rồi nha, CCQ phải trở về trông quán vì còn "TÌNH CHA" chờ đợi....ACE nhớ phụ một tay. Cám ơn anh Vinh anh Hiển đã ra tay ủng hộ nha.
BINGO RỒI BÀ CON ƠI

nguồn

 

11
 photo Ngagravey xuacircn_zpstijotkyr.jpg
0
Pháo
1
Photobucket
2
cung chúc tân xuân

Wednesday, October 2, 2019

BÀN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ROCKEFELLER FOUNDATION

=============================================== ...................................................................................................


...................................................................................................
===============================================




Người Việt Hải Ngoại

 






BÀN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ROCKEFELLER FOUNDATION






“Re-Constructing - Identity and Place - in the Vietnamese Diaspora”



Do William Joiner Center
Thuộc trường Đại Học Massachusetts Boston thực hiện

Nguyễn Hữu Luyện


William Joiner Center (WJC) thuộc University of Massachusetts Boston (UMB) dùng một số tác phẩm văn học do văn công Việt cộng xuất bản tại hải ngoại, áp dụng vào chương trình nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản nhằm "hòa hợp hòa giải" giữa người Việt tỵ nạn Cộng sản và chế độ cộng sản tại Việt Nam ngày nay".

I. Giới thiệu chương trình:
Chương trình nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản do WJC/UMB đặt tên là "ReConstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora và cũng do WJC/UMB dịch ra tiếng Việt là Diễn Trình (Tái) Xây Dựng Diện Mạo Và Quê Hương Của Người Việt Ở Nước Ngoài".

Theo tập tài liệu Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan (Grant Proposal) và nói một cách đại cương, chương trình này sẽ viết những vấn đề sau đây:

    1. Khảo sát việc xây dựng và diễn giải lịch sử Việt Nam. Ảnh hưởng của các sự kiện lịch sử như cuộc chiến tranh chống Pháp, tù cải tạo sau 1975, Vùng Kinh Tế Mới, và vượt biên đối với Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản trong vấn đề tái xây dựng nét đặc thù.

    2. Khảo sát nền văn học, ngôn ngữ, văn hóa và vai trò của nhà văn, nghệ sĩ, đặc biệt là những tiếng nói đang nổi lên của nền văn học hải ngoại trong vấn đề tái xây dựng nơi cư trú, gia đình và những đặc trưng của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản.

    3. Khảo sát về những tác động của chính sách đổi mới, khuynh hướng thiên về nền kinh tế thị trường của nhà nước Cộng Sản Việt Nam đối với cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản.

II. Nhận xét về nghĩa của chữ và mạch văn (semantics & contextual meanings) trong đề tài “ReConstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora".

1."Diaspora" lấy từ chữ Hy lạp, có nghĩa là rải rác, phân tán. Chữ Jewish Diaspora được dùng lần đầu tiên vào năm 586 trước Công Nguyên để chỉ người Do Thái bị đày ải lên thành Babylonia. Trong suốt chiều dài lịch sử của Do Thái, cho tới sau thế chiến thứ hai, được trở về lập quốc, chữ Diaspora chỉ người Do Thái sống bên ngoài lãnh thổ Palestine và bây giờ là Israel (Theo Encarta ® 97 Encyclopedia).

Diaspora còn có nghĩa là một nhóm người sống rải rác bên ngoài lãnh thổ của mình (World Book History).
Tập tài liệu "UMass Boston Program Plan" định nghĩa "Diaspora" khác với "Immigration" vì "Diaspora" là những người bị lịch sử ngược đãi, có lòng mong đợi ngày hồi hương, và không gì có thể thay thế được sự ngự trị của quê hương cũ trong tâm hồn họ.

(ReConstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora, p 4). Hoàn cảnh chính trị của người Do Thái ngày xưa và của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản ngày nay không khác nhau. Do đó, chữ "Vietnamese Diaspora" contextually và semantically phải dịch là "cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản" vì trên 99% người Việt sống ở nước ngoài ngày nay là người tỵ nạn Cộng sản. Hoa Kỳ cũng như toàn bộ các quốc gia khác của thế giới tự do, sau sự kiện tháng tư 1975, đã đón nhận người Việt Nam vào quốc gia của họ dưới danh nghĩa "tỵ nạn chánh trị hay là 1. “Diaspora”.

Nếu dịch như UMass Boston là "người Việt sống ở nước ngoài", người đọc có thể hiểu là những công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang sống ở nước ngoài, và vào cuối thế kỷ 20, không hề có cuộc ra đi ồ ạt và vĩ đại nhất trong lịch sử tỵ nạn và đấu tranh của nhân loại. Như vậy là chương trình đã đi ra ngoài mục đích tài trợ của Rockefeller Foundation - nghiên cứu về nền văn học của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, một nền văn học rất đa dạng và hoàn toàn khác biệt với nền văn học trong nước. Văn học hải ngoại thực chất là văn học VNCH sau hơn một phần tư thế kỷ tiếp xúc trực tiếp với nền văn học phương Tây, và đã có những biến trạng quan trọng cần được nghiên cứu: đó là mục đích của Rockefeller Foundation khi đứng ra bảo trợ chương trình này.

Cách diễn dịch hoàn toàn sai trái của UMass Boston không thể nào chấp nhận được về mặt dịch thuật, chưa nói tới mặt chá? người Việt

Di sản văn hóa của miền Nam Việt Nam đã được những người tỵ nạn mang ra hải ngoại sau sự kiện lịch sử 1975. Đảng Cộng sản đã thực hiện đồng nhất về chánh trị và quân sự, nhưng về mặt văn học thì các văn hóa phẩm kể cả âm nhạc của miền nam đã bị gom lại và đốt hết. Việt cộng dùng pháp luật để trừng phạt những ai còn lưu dụng các tác phẩm văn học, âm nhạc của VNCH. Hát nhạc vàng là nhạc của VNCH bị ghép tội "văn hóa đồi trụy" và bị đưa đi tập trung cải tạo. Bài này sẽ trình bày và dẫn chứng WJC/UMB nhìn nền văn học Việt Nam hải ngoại dưới góc độ nào? Và đã đặt nền tảng cho việc thực hiện chương trình nghiên cứu này dưới nhãn quan sát nào?

2. Identity and Place là hai terminologies dùng trong ngành "Nhân Văn Humanities". Nếu hiểu hai chữ này theo nghĩa thông thường của tự điển thì sẽ không dịch được cái nghĩa mà nó bao hàm trong khuôn khổ của chương trình nghiên cứu. Vì Việt Nam, từ thời VNCH cho tới nay, chưa có Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ nên những chữ này rất khó để có sự đồng nhất về cách dịch giữa chúng ta. Trong giai đoạn gần đây, kể từ khi chúng ta phản đối WJC/UMB, đã thấy xuất hiện trên báo chí và "network" nhiều cách dịch khác nhau, mặc dù cách dẫn giải có thể không khác nhiều. Chữ "identity" đã được dịch là "căn cước", "bản sắc", "bản chất", "đặc tính", và trường UMass Boston dùng chữ rất táo bạo là "diện mạo". Chữ "place" được dịch là "nơi cư trú", "nơi sinh sống", "mảnh đất tạm dung", "vị trí", và UMass Boston thì dịch táo bạo hơn là "quê hương". Bài viết này trình bày về ý nghĩa mà "identity" và "place" bao hàm trong khuôn khổ của khoa nhân văn, và được dùng trong chương trình nghiên cứu nà “network”

"Identity" trong cuốn Dreams in the Shadow, Mandy Thomas (Tiến Sĩ Nhân Chủng Học) có bàn về "identity" như “Identity” trong cuốn “Dreams in the Shadow”:

  • Identity liên quan tới sự biểu hiện của bản thân, và những định nghĩa về bản thân được gắn liền với không gian (trong khái niệm về thời gian và không gian của sự việc).
  • Identity là một quá trình xây dựng và thực hành của bản thân. Các quá trình này không bao giờ hoàn tất và hình thành trong phạm vi của sự biểu hiện.
  • Bản chất của Identity là hay thay đổi.

Qua ba khái niệm trên, chữ Identity có thể dịch ra là "đặc trưng", "đặc thù" vì "Identity" chỉ biểu hiện nét đặc biệt nào đó và luôn luôn thay đổi theo điều kiện của không gian. Mỗi người đều có rất nhiều "identities": "identity về học vấn", "identity về nghề nghiệp", "identity về giới tính: bisexuality; homosexuality; heterosexuality" v. v...

Trong một buổi hội thảo về "identity", một cô người Mỹ có chồng là người Na Uy kể một câu chuyện về American identity của cô như sau: trong một khu shopping sang trọng của thủ đô Na Uy, không khí thật là yên tĩnh và trang nghiêm, cô chợt thấy một nhóm du khách người Mỹ rất trẻ, vừa đi vừa đùa giỡn, xô đẩy nhau ồn ào lớn tiếng có vẻ như coi thường người chung quanh. Cô thấy nhiều người nhìn nhóm thanh niên Mỹ đó với con mắt khó chịu. Cô chợt thấy hổ thẹn và cầu xin sao cho những người chung quanh cô sẽ không một ai biết rằng cô là người Mỹ.

Vài ngày sau, khi thăm viếng Viện Vật Lý Na Uy, tại đây đang có một chương trình nghiên cứu do Mỹ bảo trợ. Khi đi vào sảnh đường, cô thấy lá cờ Mỹ được đặt ở một vị trí trang nghiêm trong phòng. Cô thấy rất tự hào rằng mình là người Mỹ, và cô thầm ước mong rằng mọi người sẽ biết cô là người Mỹ. Cô rất sung sướng với cái American identity của cô.

Theo đó thì "Identity" lệ thuộc và thay đổi theo không gian. Do đó, "identity" không thể là bản chất, đặc tính, hay bản sắc và cũng không thể là diện mạo như UMass Boston đã dịch. Diện mạo không thể thay đổi, trong khi đó thì "identity" thay đổi.

"Place:" Theo Mandy Thomas thì sự xây dựng lại đặc trưng của mình sau khi nhập cư có một ý nghĩa quan trọng về không gian, bởi vì người nhập cư [di dân và tỵ nạn] luôn luôn có cảm tưởng bị lạc lõng cho nên họ cố gắng tạo cho mình một cảm giác dễ chịu trong cái "place" mới của mình như ở quê nhà. Đây chính là quá trình hội nhập vào nền văn hóa mới (acculturation hay là adaptation), trong đó người nhập cư đã mặc nhiên xây dựng lại identity của mình. Qua nhận định này, chữ "place" chỉ nơi mà người tỵ nạn cư trú được gặp điều kiện chánh trị, kinh tế và xã hội thích hợp với sự mong đợi, thì người tỵ nạn sẽ có cảm giác ấm cúng như ở quê cũ.

Một thí dụ khác liên quan đến place: xét “Place”: Theo "identity Thomas thì sự xây dựng" thì khi còn ở trong nước (place: Việt Nam) thì có thể điều kiện chánh trị không cho phép, nên không tham dự lập hội trong công việc xã hội.
Khi "place: Việt Nam" thay đổi thành "place: Hoa Kỳ" thì "identity của phụ nữ Việt Nam" người tỵ nạn vừa được bình đẳng với chồng trong việc phân công trách nhiệm gia đình, ra ngoài xã hội làm việc có income/lợi tức như chồng, khi tham dự công việc xã hội kèm theo điều kiện chính trị trong xã hội đó nhiều hơn là khi còn ở Việt Nam. Sự việc này nhấn mạnh thêm rằng "place"bao hàm nghĩa "nơi cư trú người tỵ nạn có cơ hội và điều kiện hơn khi ở trong nước Việt Nam."...

III. Tuyển nghiên cứu viên:

Chương trình kéo dài ba năm. Năm thứ nhất đặt nền tảng nghiên cứu cho hai năm còn lại (UMass Boston Program Plan, p.2) và chọn bốn học giả để nghiên cứu. Hai từ Hà Nội tới là Ông Hoàng Ngọc Hiến, nguyên là Giám Đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du Hà Nội, trường này của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người thứ hai là Ông Nguyễn Huệ Chi, nguyên là chủ nhiệm Ban Nghiên Cứu và Lý Luận Văn Học thuộc Viện Văn Học Việt Nam tại Hà Nội. Người thứ ba là cô Michele Janette, tiến sĩ Mỹ da trắng, khoảng ngoài 30 tuổi. Người thứ tư là cô Caroline Kiều Linh, người Mỹ gốc Việt, theo gia đình di tản sang Mỹ năm 1975, lúc đó mới có bốn tuổi. Hai cô này viết những vấn đề không quan trọng. Riêng hai học giả Việt cộng thì WJC công bố là sẽ viết những vấn đề sau đây:

"Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu văn phong, chủ đề và các nguồn sáng tác hải ngoại, với sự chú trọng đặc biệt vào tình yêu và sự gắn bó với tổ quốc [Việt Nam].
Ông Nguyễn Huệ Chi sẽ thu thập và phân tích các tác phẩm phê bình về văn hóa cổ của Việt Nam - sự nối tiếp, thay đổi và biến thái trong môi trường hải ngoại". (Thông cáo báo chí của WJC/UMB ngày “Ông Hoàng Ngọc Hiến"

Vì cả Hoàng Ngọc Hiến lẫn Nguyễn Huệ Chi đều không am hiểu gì về nền văn học và đời sống hải ngoại nên đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng khi chọn các tác phẩm để nghiên cứu. Hai học giả này không hề phân biệt được tác phẩm nào là tiêu biểu cho tuyệt đại đa số người Việt tỵ nạn, tác phẩm nào chỉ thể hiện quan điểm của một thiểu số không đáng kể, hoặc chỉ là những tiếng nói lẻ loi mà không tiêu biểu cho một khuynh hướng nào ở hải ngoại hết. Sự nhầm lẫn vì không có một chút hiểu biết nào về đời sống thực tế của người Việt hải ngoại đã dẫn đến cách mô tả cực kỳ thê thảm khi Hoàng Ngọc Hiến viết về thế hệ trẻ hải ngoại với lời nhận xét của ông ta xen lẫn vào phần trích dẫn như sau:

"Trong bài thơ Nguyễn Bính của Nguyễn Bá Chung [Giám Đốc chương trình nghiên cứu], hai câu thơ:

"Nửa đời mới biết công danh hão,
Giày cỏ, gươm cùn đến trắng tay."


Có thể hiểu với ý nghĩa thời sự là tác giả mượn thân phận của nhà thơ giang hồ họ Nguyễn để cảm khái tâm trạng vỡ mộng của mình và những chàng trai cùng thế hệ hiện tượng long đong nơi đất khách quê người. (Việt Báo Online Mục Lục Lưu Trữ “Trong.

Chỉ cần nêu lên một điểm: Nếu tuổi trẻ hải ngoại mà như vậy, thì lấy đâu ra tiền mà gửi về Việt Nam mỗi năm hàng hai, ba tỷ đô la! Hậu quả của sự lựa chọn nghiên cứu viên một cách "bừa bãi" của WJC/UMB đã dẫn đến kết quả tai hại, chỉ vì người nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản lại là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản nên mới có nhầm lẫn giống như một người mù, sờ tai con voi rồi mô tả "con voi giống cái quạt". Đoạn trích dưới đây chứng minh rõ ràng Hoàng Ngọc Hiến không hiểu gì về Người Việt hải ngoại đã chọn bừa bãi” của WJC/UMB đã trình bày.

Trong truyện Tật Nguyền của Nguyễn Ý Thuần (16), sau 5 năm ở Mỹ, nhân vật xưng tôi có cảm tưởng chung về trạng thái nhân thế trong cộng đồng người Việt ở Mỹ như sau: Năm năng vật lộn với đủ thứ nghề và lang thang trên những vùng đất xa lạ, tôi đâm ra ngán ngẩm sau khi tiếp xúc với một số cộng đồng tỵ nạn. Hầu hết đều khoác lên người một thứ gì đó - như lớp quần áo giấy - để sống, để khỏi khuất lẫn vào đám đông. Bằng quá khứ cũng có, bằng chức vụ hay bằng cấp. Nhưng tựu trung chỉ nằm trong vòng thỏa mãn tự ái cá nhân hay khỏa lấp mặc cảm. Nói cho cùng, tôi vẫn gặp một số người sống bằng cả tấm lòng. Ở thiểu số này, ranh giới giữa suy nghĩ riêng tư và cuộc sống ở đây hoàn toàn cách biệt. Họ âm thầm thực hiện hoài bảo. Như những đốm lửa lạc loài trong đểm văn minh quá mức. Với họ - những đốm lửa nhỏ nhoi đó - điểm ra đi là nơi trở về (Đọc Văn Học Hải Ngoại của Hoàng Ngọc Hiến do Nguyễn Quốc Trụ giới thiệu và đăng trên Việt Báo Online Mục Lục Lưi trở 7/31/2001).

Đối với chúng ta thì đây chỉ là những mẩu chuyện nói năng lảm nhảm, nhưng những thế hệ sau, khi cần nghiên cứu về chúng ta, sẽ vào các thư viện nghiên cứu và các văn khố để sao lục và dùng những tài liệu NGUYÊN THỦY (PRIMARY SOURCES) như thế này để viết lại và khuếch tán hơn nữa để nói về chúng ta thì quý vị nghĩ sao? Con cháu của chúng ta sẽ nghĩ gì về cha ông chúng? Sẽ nghĩ gì khi biết rằng chúng đã được sinh ra bởi những hạng người như chúng ta (theo cách mô tả của Hoàng Ngọc Hiến như mẩu chuyện trên)? Thật ra không ai trách Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, người phải chịu trách nhiệm về những sai trái này là WJC/UMB, cơ quan đã mời hai học giả Việt cộng để viết về người tỵ nạn Cộng sản là một đề tài mà họ hoàn toàn không có một sự hiểu biết nào hết.

Sự khờ dại và ngây ngô của Nguyễn Huệ Chi còn buồn thảm hơn nữa. Ông Chi được WJC chỉ định nghiên cứu về cổ văn hải ngoại. Vậy mà Ông Chi cũng nhảy vào giới văn học hiện đại để thực hiện chủ trương hòa hợp văn học mà Hà Nội và WJC đã cấu kết với nhau từ khi viết kế hoạch đề nghị xin ngân khoản của Rockefeller Foundation. Đây là đoạn trích của bài viết của Nguyễn Huệ Chi đăng trong tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác - một tác giả có sách xuất bản tại Việt Nam.

... thì đông đảo các nhà văn trẻ - mà số lượng nữ khá vượt trội - lại mải mê ghi lại vô vàn cảnh ngộ lý thú, nực cười của cuộc mưu sinh tất bật nơi quê hương mới, nhiều nhà văn trẻ khác dồn năng lực tìm tòi cách viết mới, cách đặt câu xếp chữ tân kỳ, cách ẩn dụ bằng biểu tượng cho văn chương thêm đa nghĩa, và cũng không có ít nhà văn không chút thờ ơ trước luồng gió đổi mới từ trong nước, đang cố gắng thoát ra khỏi những mặc cảm quá khứ, chủ động lên tiếng hợp lưu để cùng với dòng văn học đổi mới từ trong nước hợp chung thành một dòng văn học Việt có trong, có ngoài trong sự cảm thông giữa những người cầm bút (Văn Học, số 184, thán tiếng "hợp lưu" để...

Trước khi sang Mỹ, Hoàng Ngọc Hiến đã thận trọng dùng quyền lực của Đảng và nhà nước, dạy các thế hệ cầm bút phải viết những gì và viết như thế nào để duy trì nền tảng triết học duy vật và thực hiện lời dạy của "Hồ Chủ Tịch". Ông Hiến đã xuất bản cuốn sách nhan đề: "VĂN HỌC VÀ HỌC VĂN" dày 277 trang, do nhà xuất bản Văn Học Hà Nội phát hành năm 1999, liền trước khi sang Mỹ để nghiên cứu về nền văn học hải ngoại. Ra hải ngoại thì hai học giả "cò mồi" này lại lớn tiếng kêu gọi hải ngoại hòa hợp với nền văn học đổi mới ở trong nước. Học giả cộng sản cũng không thoát khỏi bản chất lừa bịp của chế độ. Ba đoạn trích sau đây chứng minh hai học giả này là ai và họ đã lừa bịp trắng trợn như thế nà thực

1. Cứ như Hồ chủ tịch trình bày về mục đích viết của mình thì mục tiêu của người nghệ sĩ cách mạng trước hết phải hướng về sự cải tạo cách mạng xã hội, mục tiêu đó phải trở thành nguyện vọng thiết tha, ham muốn tột bậc của người nghệ sĩ (Văn Học và Học Văn nguyện vọng thiết).

2. Văn học là sự phản ảnh thực tế. Tìm hiểu quan điểm tiếp cận thực tế của Hồ chủ tịch có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn quan điểm tiếp cận văn học của người. (Văn Học và Học Văn, trang 11)

3. Văn học xã hội lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở triết học (Văn Học và Học Văn, trang 13)

Như vậy mà Kevin đã trả lời phỏng vấn của báo The Boston Globe ngày 26-10-2000, rằng nếu họ [Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi] là những học giả trực tiếp với đường lối của đảng, thì Kevin đã không mời họ. Như vậy Kevin không hiểu gì về Hoàng Ngọc Hiến hay là Kevin cố tình lường gạt dư luận? Thái độ của WJC/UMB đối với việc thực hiện chương trình nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản như thế nào, chọn ai để viết chương trình này, đã bộc lộ rõ ràng trong đoạn trích dưới đây.

... trong toàn bộ tập "Grant Proposal", không hề có một chữ nào nói tới việc dự tính mời các nhà văn và bộ tập “Grant Proposal".

"Trong suốt ba năm[của chương trình Rockefeller] chúng tôi chủ trương kết hợp càng nhiều càng tốt, các chương trình đang thực hiện với các nhà văn và các học giã từ Việt Nam tới với chương trình Rockefeller và tìm kiếm các phương tiện thích hợp để xuất bản và phổ biến những bài viết, những phản ảnh của các học giả này trên báo chí, và các phương tiện điện tử ở khắp nơi" Trong suốt ba năm[của chương trình

Một hành động rất "ngộ nghĩnh" một cách trái thường là trong tập "UMass Boston Program Plan" WJC/UMB mời Ngụy Ngữ từ Hà Nội sang Mỹ và giới thiệu Ngụy Ngữ là tiêu biểu của QLVNCH. Trên thực tế thì Ngụy Ngữ là một chuẩn úy thuộc QLVNCH đã đào ngũ theo Cộng sản và đang phục vụ trong guồng máy tuyên truyền của Hà Nội. Khi WJC/UMB mời đại tá Lê Lựu, một nhà văn "lỗi lạc" (nguyên văn) của quân đội Cộng sản sang Mỹ, và WJC/UMB muốn có một nhà văn của QLVNCH cùng hiện diện với Lê Lựu nên đã gắn danh hiệu QLVNCH cho Ngụy Ngữ, để cùng hiện diện với Lê Lựu cho có đủ màu sắc của cả hai miền Nam và Bắc. Đoạn trích dưới đây vạch rõ thái độ rất "hài hức" rất quái dị

Trung tâm (WJC) đã bảo trợ cho việc trao đổi các nhà văn, nghệ sĩ, học giả và giáo giới của Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1987, khi đó còn ít cơ quan lưu tâm tới Việt Nam - với cuộc thăm viếng lịch sử của Lê Lựu, [nhà văn quân đội Cộng sản cấp đại tá] và Ngụy Ngữ [chuẩn úy QLVNCH, dào ngũ theo CS], hai nhà văn quân đội lỗi lạc của miền Bắc và miền Nam, thuộc Quân Đội Nhân Dân và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa... (UMass Boston Program Plan, p. 7)

Đây rõ ràng là WJC/UMB đang làm trò "quỷ thuật" chứ không phải là nghiên cứu đại học (Academic research)! Tại sao WJC/UMB không mời một nhà văn quân đội thực sự là quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đang sống tại Hoa Kỳ và đang kêu gọi WJC cho giới viết văn hải ngoại được tham gia hội luận quốc tế hàng năm do WJC tổ chức với tư cách là hậu quả chiến tranh Việt Nam, vì WJC/UMB chỉ mời có CSVN mà thôi.
Một mặt:
- WJC làm ngơ trước lời kêu gọi của giới viết văn hải ngoại thuộc QLVNCH,
mặt khác:
- WJC đem Cộng sản từ Hà Nội qua và giới thiệu là nhà văn quân đội thuộc QLVNCH!
Thật không còn có một trò lừa bịp nào trắng trợn hơn hành động này quỷ thuật chứ!

Còn một vấn đề quan trọng trong chương trình này chưa được nêu ra, nhưng vì khuôn khổ của một bài viết trong tạp chí không thể dài hơn được nữa.
Nghiên cứu về việc làm của WJC/UMB mà chưa xét tới phần "Tiểu Luận về Khái niệm về chương trình Học Bổng Nhân Văn của Rockefeller Foundation" của WJC/UMB thì chưa thấy được nền tảng triết lý của chương trình này như thế nào. Do đó chưa thấy được những âm mưu đen tối của WJC/UMB khi dự trù xin ngân khoản để thực hiện chương trình nghiên cứu này nhằm mục đích xóa sạch tội ác chánh trị của Việt cộng trước sự phán xét của lịch sử.

MẶT TRÁI CỦA CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN VĂN ROCKEFELLER

Rockefeller Foundation tài trợ $250,000 cho UMass Boston để thực hiện một chương trình nghiên cứu mang tên: "Tái Xây Dựng Đặc Trưng và Nơi Cư Trú của Người Việt Tỵ Nạn Trên Khắp Thế Giới". Chương trình kéo dài ba năm và năm thứ nhất sẽ đặt nền tảng cho sự triển khai của hai năm còn lại. (UMass Boston Program Plan, trang 2) vì vậy năm thứ nhất có tầm quan trọng trọng hơn và có ý nghĩa quyết định cho toàn bộ chương trình, và đã được thực hiện xong bởi hai học giả của đảng Cộng sản là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi.
- Hoàng Ngọc Hiến nguyên là giám đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du Hà Nội. Khác với chúng ta ở đây, những nhà văn có uy tín ở Việt Nam phải là những người xuất thân ở trường này vì đây là trường Đảng.
- Nguyễn Huệ Chi là chủ nhiệm Ban nghiên cứu và lý luận văn học của Viện Văn Học Việt Nam tại Hà Nội. Tiến sĩ Kevin Bowen khẳng định rằng chỉ có một mình Hiến là đảng viên thôi. Chúng ta không thể nào thẩm tra được lời nói này. Tuy nhiên, đây là một kinh nghiệm về thủ đoạn của Việt Cộng.
Nguyễn Huệ Chi ngồi ở ghế CHỦ NHIỆM ỦY BAN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VĂN HỌC là vị trí chủ chốt của guồng máy khống chế tư tưởng của cả nước mà lại không phải là đảng viên thì thật là buồn cười. Trước đây, tại Hội Nghị Paris năm 1972, khi báo chí Pháp hỏi bà Nguyễn Thị Bình về Đảng Tịch, hay nói nôm na là -- bà có phải là đảng viên đảng cộng sản không, thì bà Bình thề sống thề chết rằng bà không phải là đảng viên, và bà còn đưa ra nhiều lý luận để bảo đảm bảo lời đã nói. Nhưng mới đây, khoảng hai, ba năm trước, báo chí ở trong nước và cả các hệ thống thông tin khác cũng đều loan báo là bà Nguyễn Thị Bình đã được trao tặng huy chương cao nhất nhân dịp kỷ niệm 40 năm tuổi đảng của bà.

Đem hai viên chức cao cấp trong guồng máy tuyên truyền của nhà nước cộng sản Việt Nam sang Mỹ để MÔ TẢ người Việt tỵ nạn cộng sản là một nghịch lý chưa từng thấy trong lịch sử văn học của thế giới. Bản thông cáo báo chí của WJC/UMass Boston đề ngày 15-4-2000 đã xác định:

"Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu về văn phong, chủ đề, các nguồn viết văn hải ngoại với sự chú trọng đặc biệt vào lòng yêu nước và sự gắn bó với tổ quốc [Việt Nam] của “Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu về văn phong,"

Đã hơn một năm qua, đồng bào ta đã liên tục đấu tranh để bảo vệ phẩm giá của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Chúng ta cương quyết không cho WJC/UMass Boston thực hiện mưu đồ đen tối của họ. Tài liệu do UMass Boston viết để xin ngân khoản của Rockefeller Foundation cho thấy rằng Hà Nội đã trực tiếp chi phối chương trình nghiên cứu này từ khi còn trong trứng nước. Đoạn trích sau đây nói rõ vấn đề này:

Việt cộng bắt đầu chú ý tới cộng đồng người Việt ở hải ngoại: Ngoài việc đánh giá tiềm lực kinh tế dồi dào của người Việt hải ngoại khắp năm châu, mà trong nước thì nền kinh tế bết bát, đang khủng hoảng trầm trọng - vì chúng thất bại trong điều hành kinh tế tập trung theo cách xã hội chủ nghĩa, và quan trọng hơn hết chính là lập trường chống đối nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam một cách gay gắt của nhiều người tỵ nạn trong cộng đồng hải ngoại.

Mới đây, các học giả Việt cộng bắt đầu chú ý tới cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ngoài việc đánh giá tiềm lực kinh tế dồi dào tại của người Việt tại hải ngoại, mà trong khi tại trong nước nước thì nền kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng - do bởi chúng thất bại điều hành kinh tế áp dụng theo cách kinh tế tập trung theo chế độ xã hội chủ nghĩa, và quan trọng hơn hết chính là lập trường chống đối nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam một cách gay gắt của nhiều người tỵ nạn sống trong tại hải ngoại. Nhưng tình hình đang thay đổi... (Re-constructing identity and Place in the Vietnamese diaspora, p.4)

Bọn cộng sản Hà Nội nhận định rằng tìm cách xoay hướng và triệt tiêu tinh thần chống Cộng của đồng bào hải ngoại sẽ mang lợi tiền bạc về cho bọn chúng, nên chúng đã cấu kết với WJC/UMass Boston để dựng lên cái gọi là HÒA HỢP giữa người tỵ nạn cộng sản với cộng sản Hà Nội. Đoạn trích sau đây để lộ âm mưu của chúng:

... đồng thời cũng nối những nhịp cầu nhận thức và tập quán với ngành Việt Nam Học [của UMass Boston] nhằm thiết lập những hình thức linh hoạt để giải thích những thực tế phức tạp trong nhiều mối quan hệ tình cảm của người Việt lưu vong và đưa ra nhiều cách hòa hợp giữa người Việt lưu vong mà còn giải tán được khối đông của sự chống đối của người Việt tỵ nạn cộng sản với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.... (Re-Constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora, trang 4).

Tập tài liệu xin ngân khoản được viết bởi một nhóm tiến sĩ của trường UMass Boston, nhưng thật tình không ai có thể hiểu tại sao họ lại có thể nặn ra một kế hoạch để phản lại sự hiểu biết căn bản và tối thiểu về việc nghiên cứu văn học. Những ai đã từng biết sơ qua về việc nghiên cứu đều hiểu rằng: Nghiên cứu là tìm ra sự thật nhằm trả lời câu hỏi được đặt ra cho chương trình nghiên cứu. Ở đây câu hỏi là:


"ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI TỴ NẠN".

Nhưng UMass Boston KHÔNG TRẢ LỜI CÂU HỎI MÀ LẠI "TẠO RA NHỮNG PHƯƠNG CÁCH HÒA HỢP", một khi đã cố tạo ra một cái gì đó trong quá trình nghiên cứu thì chương trình này không còn mang tính chất nghiên cứu nữa. Đây hiển nhiên là UMass Boston đang âm mưu thực hiện một kế hoạch HÒA HỢP của Cộng sản Hà Nội.

Mở một chương trình nghiên cứu về cộng đồng tỵ nạn Cộng sản, UMass Boston chỉ nói tới việc mời các học giả cộng sản từ Việt Nam, mà không có một lời nào về học giả tỵ nạn cộng sản. Như vậy làm sao chương trình này có thể phản ảnh trung thực về đời sống của cộng đồng người Việt tỵ nạn? Đoạn trích sau đây để lộ âm mưu của UMass Boston:

"Trong suốt ba năm [của chương trình Rockefeller nghiên cứu về người Việt lưu vong], chúng tôi chủ trương kết hợp càng nhiều càng tốt, các chương trình đang thực hiện với các nhà văn và các học giả từ Việt Nam tới với chương trình Rockefeller và tìm kiếm các phương tiện thích hợp để xuất bản và phổ biến những bài viết, những phản ảnh của các học giả này trên báo chí, và các phương tiện điện tử ở khắp nơ “Trong" suốt ba năm [của chương trình].

Khi nguồn tin về vụ WJC được phát giác, các tổ chức Cộng Đồng tại khắp nơi, các đoàn thể và rất nhiều cá nhân, trong đó có nhiều người Mỹ đã gửi kháng thư ồ ạt về Rockefeller Foundation (nơi cung cấp tiền cho chương trình nghiên cứu này), viện trưởng viện đại học UMass Boston và WJC.

Trong giai đoạn này có hai sự kiện đáng chú ý là:

1/ Cuộc họp giữa phái đoàn đại biểu của Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts và WJC vào ngày 14-8-2000 nhằm đề nghị WJC phổ biến chương trình của họ để các

học giả, nhà văn Việt Nam tại Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới có thể tham dự, vì chương trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản mà lại đem Cộng sản từ Việt Nam qua để viết thì không thể chấp nhận được. Nhưng cuộc họp đã thất bại vì thái độ ngoan cố và ngạo mạn của WJC/UMass Boston.

2/ Cộng Đồng Người Việt tại Massachusetts đã tổ chức một cuộc biểu tình vào ngày 26-10-2000 gồm khoảng 300 đồng bào tham dự. Báo chí Mỹ, đài truyền hình Boston, và Fox News đã loan tin này. Nhưng chẳng những WJC tiếp tục làm ngơ mà còn cho một người Việt Nam mang danh nghĩa tỵ nạn và đang làm việc cho WJC viết những bài biện bạch đưa lên mạng lưới với những lời lẽ láo xược.

Trước tình cảnh quá đáng đó, một nhóm gồm 12 người là các ông:

1. Ông Bùi Diễm, nguyên Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ trước 1975

2. Ông Nguyễn Tú, ký giả đã từng viết cho tờ Chính Luận tại Saigon

3. Cô Theresa Vương Ý Như, Tiến Sĩ, Giáo Sư Đại Học tại Philadelphia

4. Ông Nguyễn Đạt Thịnh, nhà văn quân đội, nguyên trung tá QLVNCH

5. Ông Lê Phước Sang, Tiến Sĩ, nguyên Thượng Nghị Sĩ và Viện Trưởng Viện Đại Học Hòa Hảo tại An Giang

6. Ông Nguyễn Tường Bá, Luật Sư, nguyên Tổng thư Ký Luật Sư Đoàn của VNCH trước 1975

7. Ông Trần Minh Xuân, nguyên giáo sư Đại học tại Việt Nam

8. Nhà văn Phan Nhật Nam, nguyên sĩ quan thuộc binh chủng nhảy dù

9. Ông Lê Thanh Quang, chủ nhiệm nhật báo Thời Mới tại Philadelphia

10. Ông Nguyễn Thanh Liêm, tiến sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên.

11. Ông Nguyễn Văn Chức, nguyên Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, nguyên Chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Định chế Thượng Viện VNCH, nguyên Tổng Thư Ký Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

12. Ông Nguyễn Hữu Luyện, nguyên là sinh viên Cao Học tại UMass Boston đã đứng đơn dùng tố quyền tập thể (class action) để khởi tố WJC/UMass Boston, và tới nay thì đơn khởi tố đã lên tới tòa thượng thẩm của tiểu bang Massachusetts.

Khi Việt cộng kêu gọi hòa hợp là lúc chúng đang muốn cho người quốc gia đút đầu vào cái thòng lọng của chúng. Cộng sản Hà Nội đang âm mưu tạo ra một hình thức HÒA HỢP VĂN HỌC để hậu thế nghĩ rằng không có vấn đề tỵ nạn cộng sản ở thế kỷ 20, để rửa sạch tội ác của chúng trước sự phán xét của lịch sử. Trước 1975, Việt cộng kêu gọi HÒA HỢP DÂN TỘC để làm suy yếu tinh thần chống cộng của người dân miền Nam. Nhưng sau 1975, chính những người đã buông súng để mong HÒA HỢP thì đã bị Việt cộng đưa vào nhà tù từ 10 tới 20 năm.

Hà Nội đang âm mưu tạo ra một hình thức HÒA HỢP VĂN HỌC để hậu thế nghĩ rằng -- không có vấn đề tỵ nạn cộng sản Việt Nam ra khắp thế giới ở thế kỷ 20, mục đích của chúng là để rửa sạch tội ác của chúng trước sự phán xét của lịch sử.

Chính ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đang đóng vai trò HAI MẶT TRÁI NGƯỢC NHAU. Ở trong nước thì hai người này dùng quyền lực của Đảng và nhà nước để thúc ép giới việt văn duy trì triết lý DUY VẬT BIỆN CHỨNG, và viết theo lời dạy của "Hồ chủ tịch". Nhưng khi ra hải ngoại thì rêu rao về cái gọi là nền văn học đổi mới, và kêu gọi nền văn học của người Việt tỵ nạn cộng sản HÒA HỢP với cái gọi là văn học dân tộc của chúng. Một khi đã hòa hợp với bọn cộng sản Hà Nội rồi thì còn đâu là tư cách tỵ nạn cộng sản của đồng bào ta nữa? Như vậy chúng ta lấy gì để giải thích cho con cháu chúng ta hiểu vì sao chúng lại sinh ra trên mảnh đất này? Lấy gì để giải thích về nguyên nhân của sự ra đi trong muôn ngàn đau đớn, hiểm nghèo và thống khổ của ba triệu người Việt sau này theo

Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản cương quyết ngăn chặn bàn tay tội ác của WJC/UMass Boston bởi vì hòa hợp với cộng sản Hà Nội có nghĩa là phản bội hơn nửa triệu sinh linh đã chết trên biển cả, phản bội hàng chục ngàn thường dân đã chết trong cuộc thảm sát tết Mậu thân, và các cuộc thảm sát trên nhìn từ điểm đầu thế kỷ XXI (3-34) của Nguyễn Huệ Chi. Đoạn trích sau đây cho thấy ông Nguyễn Huệ Chi đã thủ vai trò như WJC/UMass Boston đã nêu lên trong UMass Boston Plan là tạo khả năng HÒA HỢP giữa văn học quốc nội và văn học hải ngoại như thế nào

... thì đông đảo các nhà văn trẻ - mà số lượng nữ khá vượt trội - lại mải mê ghi lại vô vàn cảnh ngộ lý thú, nực cười của cuộc mưu sinh tất bật nơi quê hương mới, nhiều nhà văn trẻ khác dồn năng lực tìm tòi cách viết mới, cách đặt câu xếp chữ tân kỳ, cách ẩn dụ bằng biểu tượng cho văn chương thêm đa nghĩa, và cũng không có ít nhà văn không chút thờ ơ trước luồng gió đổi mới từ trong nước, đang cố gắng thoát ra khỏi những mặc cảm quá khứ, chủ động lên tiếng "hợp lưu" để cùng với dòng văn học đổi mới từ trong nước "hợp chung thành một dòng văn học Việt có trong, có ngoài trong sự cảm thông giữa những người cầm bút" (Văn tiếng? hợp lưu? để cùng...

TÓM LƯỢC VỤ KIỆN WJC/UMASS BOSTON

Thủ tục "hành chánh" của vụ án WJC/UMass Boston đã xong, có nghĩa là MCAD đã kết thúc giai
đoạn điều tra. MCAD (Massachusetts Commission Against Discrimination) là chữ viết tắt của HỘI ĐỒNG BÀI TRỪ KỲ THỊ của tiểu bang Massachusetts.
HỘI ĐỒNG XÁC NHẬN KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ KỲ THỊ trong vụ án này. Tuy gọi là điều tra, nhưng sự thật th Thủ hội đồng chỉ căn cứ vào lời khai của hai bên nguyên và bị để ra quyết định mà không hề điều tra để xác định xem lời khai là thực hay gian. Chúng ta đã có đủ chứng cớ về lời khai gian của WJC/ UMass Boston. Theo luật thì chỉ sau khi Hội Đồng tuyên bố quyết định, thì bên nguyên đơn mới được phép đệ đơn khởi tố vào tòa án. Luật sư Keane nói rằng quyết định của MCAD hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới sự xét xử của tòa án. Nhưng theo thủ tục tố tụng, thì những vụ án nào liên quan tới vấn đề kỳ thị thì phải qua Hội Đồng này.

Ngày 28-09-2001, Luật sư James P. Keane & Alice J. Klein đã đưa vụ án này ra trước Tòa Thượng Thẩm (Superior Court) của tiểu bang Massachusetts. Đồng thời cũng đệ đơn lên Ông Bộ trưởng Bộ Tư Pháp của tiểu bang Massachusetts để xin mở cuộc điều tra về hành động vi phạm luật pháp của WJC/UMass Boston. Nội dung đơn xin mở cuộc điều tra như sau:

Đầu năm 2000, WJC/UMass Boston bổ nhiệm hai người cộng sản vào chương trình nghiên cứu do Rockefeller Foundation tài trợ. Sự bổ nhiệm này là một vi phạm rõ ràng vào Luật của tiểu bang Massachusetts, chương 264, đoạn 20. Đính kèm đây là một bài của báo Far Eastern Economic Review, số ra ngày 30 tháng 9, 2000, trong đó Kevin Bowen, Giám đốc WJC nhìn nhận rằng một trong hai người đã bổ nhiệm là đảng viên đảng cộng sản. Bộ luật của tiểu bang Massachusetts đã xác định rõ ràng rằng 一 đảng cộng sản đã được công bố là một tổ chức có tính cách lật đổ và gây bạo loạn, do đó cấm gia nhập đảng (membership prohibited) và cấm thuê mướn các đảng viên (appointment to employment prohibited) chiếu theo bộ luật M.G.L. a. ch. 264, sec.16 A, 17, 19 et al.

Trong đơn xin điều tra về hành vi phạm pháp của WJC/UMass Boston, Luật sư Keane có đưa ra một bằng chứng về tư cách đảng viên đảng Cộng sản của Hoàng Ngọc Hiến. Bằng chứng này là ba đoạn trích dẫn lấy từ cuốn sách VĂN HỌC VÀ HỌC VĂN của Hoàng Ngọc Hiến, xuất bản năm 1999, ngay trước khi ông được WJC/UMass Boston mời sang Mỹ để viết về cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Ông Hiến nguyên là Giám Đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội. Đó là trường của Đảng.

Về phía các luật sư của chúng ta thì tôi nhận thấy rõ là từ sau ngày Đại Hội Yểm Trợ Vụ Kiện WJC/UMass Boston, vào ngày 26-8-2001 tại Boston, cả ba vị luật sư đang phụ trách vụ án này đều tỏ ra rất phấn khởi. Trong cuộc họp báo tại văn phòng của Luật Sư Keane, các báo chí, truyền hình và radio từ các tiểu bang về đông đến nỗi chỉ có một nửa đứng trong phòng họp, còn một nửa phải đứng ngoài, và có cả tờ The Boston Globe là tờ báo lớn nhất của tiểu bang Massachusetts cũng tới dự. Sau buổi họp báo đó thì văn phòng này mới thấy rõ là họ đang biện hộ cho cả ba triệu người tỵ nạn.

Khi chuyển vụ án này ra tòa thượng thẩm, tôi có nói với Luật Sư Keane rằng nếu ông thấy cần thiết, ông hãy mời những luật sư nào nổi tiếng nhất nước Mỹ để phụ giúp ông. Chúng tôi có ba triệu người tỵ nạn cộng sản, không một ai trong chúng tôi lại có thể ngồi yên để cho bọn Việt cộng mượn tay một trường đại học lớn, mượn danh nghĩa một Foundation để dùng công trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế này để làm nhục chúng tôi. Chúng tôi không thể để con cháu chúng tôi nhìn hình ảnh của cha ông chúng qua những nét bút của bọn Việt cộng. Ba triệu người tỵ nạn cộng sản, mỗi người chỉ bỏ ra $1 là chúng tôi có thừa tiền để đưa vụ kiện này tới bất cứ nơi nào, bất cứ cấp nào vì tuy gặp khó khăn vì thế lực của trường UMass Boston rất mạnh tại tiểu bang Massachusetts, nhưng chúng tôi cũng vẫn tin tưởng vào luật pháp Hoa Kỳ. Luật Sư Keane trả lời tôi rằng ông không cần bất cứ một ai khác.

Khi tôi hỏi về thời gian chờ đợi xét xử, thì Luật Sư Keane cho biết trong vòng một năm. Tôi nhấn mạnh (insist) rằng thời gian là một yếu tố hoàn toàn bất lợi cho cộng đồng người Việt. Chúng tôi đã bị ghìm ở trong Hội Đồng bài trừ kỳ thị mất một năm rồi. Còn hai năm nửa, nếu chương trình nghiên cứu của UMass Boston làm xong, và khi họ đã công bố và cho xuất bản rồi thì dù có án lệnh của tòa án cũng không thâu hồi lại được. Như vậy trong lúc chờ đợi xét xử, chúng ta có đủ bằng chứng về sự gian lận và phạm pháp của trường UMass Boston rồi thì có thể xin án lệnh đình chỉ việc nghiên cứu để chờ phán quyết của tòa án được không?

Luật sư Keane trả lời rằng chỉ khi nào ra trước tòa, sau khi đã trình bày rõ mọi vấn đề thì mới xin tòa đình chỉ chương trình để đợi án lệnh thì mới được. Chưa có phiên xử thì không thể làm gì được hết. Tôi nhấn mạnh vào thời gian chờ xét xử để nhờ Luật Sư Keane SPEED UP ngày xử bằng tất cả những biện pháp chuyên môn mà ông có thể làm được. Luật Sư Keane hứa sẽ thúc đẩy việc xét xử trong vòng sáu tháng, và khuyên tôi không nên nóng nảy quá, để ông ấy lo, và nhờ tôi nói lại với đồng bào là ông ấy rất thông cảm với cộng đồng người Việt vì ngày xưa ông ấy đã sang Việt Nam chiến đấu rồi...



 

 






Người Tù Kiệt Xuất - BIỆT KÍCH DÙ


Tác Giả: Phan Lạc Phúc

Tôi đã nhiều lần định viết về những người tù kiệt xuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: những anh em Biệt Kích Dù, những người “từ trên trời rơi xuống,” nhưng tôi cứ lần lựa mãi. Lười biếng thì chỉ có một phần.

Lý do chính yếu là những người bạn tù mà tôi bội phần cảm phục ấy đang ở trong một tình trạng hết sức khó khăn. Chúng tôi đi cải tạo sau tháng 4 đen 1975, dù đớn đau, khổ nhục đến đâu, vẫn có tên, có tuổi, hằng tháng, hằng quý vẫn còn liên lạc được với gia đình. Anh em, bè bạn ở nước ngoài vẫn còn có chút âm hao để mà theo dõi. Những anh em Biệt Kích Dù thì đúng là “thượng diệt, hạ tuyệt” - không có quân bạ, quân số, không có tên có tuổi nào được ghi danh, không có chính phủ nào, quân đội nào công nhận có những con người ấy ở dưới tay.

Không được liên lạc với ai, coi như không còn hiện diện trên trái đất. Ở trên trời rơi xuống Bắc Việt vào đầu thập niên 60 thời Đệ Nhất Cộng Hòa, những anh em Biệt Kích Dù đã tham dự một cuộc chiến tranh tối mật (secret war). Những người tình nguyện tham gia cuộc chiến này đã tự coi như mình đã chết; nhảy xuống, tìm được địa bàn hoạt động, trà trộn được, ẩn giấu được là sống, là thi hành xong nhiệm vụ, nếu bị lộ, bị bắt, bị giết thì “Anh tự lo liệu cho cái thân anh, không có cơ quan nào, tổ chức nào đứng ra can thiệp hay bảo trợ cho anh được”. Những người tù “đứt dây rơi xuống này không được hưởng chút quyền lợi nào từ quy chế tù binh (Genève); các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết làm sao để can thiệp, vì các anh đâu có quân bạ, quân số, đâu có tên, có tuổi được ghi danh hợp pháp ở một chính phủ nào.

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, (thời tổng thống Ngô Đình Diệm), nghe nói đại tá Lê Quang Tung, em là thiếu tá Lê Quang Triệu phụ trách công tác này. Ở đàng sau có cơ quan tình báo hay phản gián nào của Mỹ yểm trợ hay không, điều này ai cũng hiểu là phải có, nhưng cơ quan nào: CIA hay thuộc cơ quan tình báo Ngũ Giác Đài, không ai dám đoan chắc, mà cũng không ai dám biết. Nghe nói những người được tuyển chọn vào Biệt Kích Dù tham gia vào cuộc chiến tranh tối mật, ngoài những người khả năng đặc biệt về nghiệp vụ như tình báo, truyền tin, phá hoại, trà trộn dưới đồng bằng, ẩn giấu trong rừng sâu, chiến đấu với đối phương, với bệnh tật, với thiên nhiên, được trang bị thật kỹ từ A đến Z về mưu sinh thoát hiểm, họ còn phải là những người tuyệt đối tin tưởng vào quốc gia, vào lãnh tụ. “Sống không rời nhiệm vụ, chết không bỏ lập trường” đó là vũ khí chung của anh em Biệt Kích...

Như mọi người đã biết, cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã làm sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa, anh em tổng thống Ngô Đình Diệm bị hạ sát; người rất thân tín, người ủng hộ đến cùng anh em tổng thống Diệm là anh em đại tá Lê Quang Tung, thiếu tá Lê Quang Triệu tất nhiên cũng bị triệt hạ theo. Các anh em Biệt Kích Dù sau tháng 11 năm 1963, khi anh em tổng thống Diệm chết đi, khi anh em người chỉ huy chiến dịch là Lê Quang Tung-Lê Quang Triệu bị hạ sát, đã bị rơi vào tình trạng rắn mất đầu. Sự tan vỡ như thế là không tránh khỏi. Không biết có một sự kiện “vỡ kế hoạch” vô tình hay cố ý nào không, nhưng các anh em Biệt Kích Dù ra Bắc lần lượt bị phát giác, bị truy bức, bị giết và bị bắt.

Không ai biết rõ hay biết mà không ai dám nói ra, đã có bao nhiêu Biệt Kích Dù ra Bắc, công trạng họ lập nên được những gì? Bao nhiêu người sống, bao nhiêu người chết? Chiến tranh tối mật nên những người thực hiện sống hay chết đều nằm trong bóng tối. Đó là quy luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn. Có nhiều người cho rằng trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, người có công nhất chưa chắc đã là viên thống soái chỉ huy ba quân tướng sĩ, mà người có công nhất có thể là người chiến sĩ vô danh chết chồng đống trong chiến hào, chết âm thầm trong rừng sâu, chết lạnh lùng dưới biển cả. Thời gian cũng như lòng người, đều vô tình như nhau. Nào ai còn nhớ trong biết bao nhiêu người chiến sĩ Biệt Kích Dù ra Bắc đầu thập niên 60 năm ấy, ai còn, ai mất?

o0o

Năm 1980 khi lũ tù cải tạo chúng tôi đến huyện Như Xuân, chốn rừng sâu Thanh Hóa, gần biên giới Lào, chúng tôi thấy đây là một trại tù mới dựng giữa rừng sâu. Trước đó, chắc trại Thanh Phong này chưa có trên bản đồ các trại tù miền Bắc. Đây là một trại tù “ẩn giấu”. Lũ tù cải tạo chúng tôi đến đây, thuộc loại được đánh giá là “ác ôn nợ máu” gồm thành phần: An Ninh, Phòng Nhì, Trung Ương Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, Bình Định Nông Thôn... thành phần mà “cách mạng đỏ” cho rằng có liên hệ với CIA. Nhưng so với anh em tù nhân lưu cựu ở đây thì chúng tôi chưa có kí lô nào hết. Chúng tôi ở phân trại mới K2; phân trại chính và có mặt ở đây trước là K1, nơi giam giữ tù nhân kêu bằng CIA, nhưng thực ra chính là anh em Biệt Kích Dù từ đầu thập niên 60 đã nhảy dù ra Bắc.

Lũ chúng tôi mới tới được đưa ra tắm suối. Chợt gặp hai người, lưng mang dao quắm, khiêng mỗi người một bó nứa khá to. Hai người đặt bó nứa xuống và hỏi: “Các bác vừa ở Tân Lập, Vĩnh Phú xuống?” Chúng tôi gật đầu đồng ý. Hai người liền lật đật đứng nghiêm, giơ tay chào theo đúng lễ nghi quân cách và đồng thanh nói: “Chúng em là Biệt Kích Dù đây”.

Chúng tôi vừa xúc động, vừa hoang mang chưa biết nói năng gì thì một người vừa giơ ống tay áo lên lau mắt vừa nghẹn ngào: “Gần hai mươi năm nay chờ đợi các anh. Không ngờ lại gặp các anh trong tình cảnh này, đau đớn quá”.

Anh em Biệt Kích Dù về miền thượng du Thanh Hóa, gần biên giới Hạ Lào này trước chúng tôi chừng vài năm, sau khi đã trải qua những năm tháng tù đày khốn khổ ở những trại tù rùng rợn vùng biên giới phía Bắc: Trại Cổng Trời Hà Giang, trại “Mục xương” Cao Bằng hay trại Sơn La “âm u núi khuất trong sương mù”. Nếu quân “bành trướng Trung Hoa” không tấn công sáu tỉnh miền Bắc sát biên giới hồi đầu 1979, thì có lẽ anh em Biệt Kích Dù vẫn còn quẩn quanh nơi rừng núi phía Bắc.

Ở đâu anh em cũng bị “cất giấu” chốn rừng sâu, cách biệt hẳn với loài người. Một anh Biệt Kích nói với tôi “Coi như ở đây, trại Thanh Phong này là tụi em được gần gũi với ‘nhân dân’ nhiều nhất. Cũng vì thế nên mới được gặp các anh hôm nay”. Trong số các anh em Biệt Kích Dù ở trại Thanh Phong năm ấy (1980) người tù lâu nhất là 20 năm, người ít nhất là 17 năm. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” chúng tôi đi cải tạo đã được 5 năm, đã thấy cuộc đời tù dài dằng dặc, nhưng so với anh em Biệt Kích Dù này thì thật là chưa thấm vào đâu. Anh em cải tạo tụi tôi vẫn còn liên lạc được với gia đình, vẫn nhận thư, nhận quà, có anh còn được người nhà từ trong Nam ra thăm nuôi nữa.

Mới đây một số anh em trẻ, cấp bậc nhỏ đã lác đác được về. Như vậy là ở cuối đường hầm chúng tôi đã có leo lét một vài tia sáng. Anh em Biệt Kích Dù thì từ 20 năm nay, hoàn toàn nằm trong bóng đêm, sống cách biệt hẳn với loài người, coi như những người “bị bỏ quên” trên hành tinh trái đất. Người tù truyền thuyết trong cổ tích Trung Hoa là ông Tô Vũ cũng chỉ chăn dê ở Hung Nô đâu có 17 năm. Xem ra thâm niên đi tù của ông Tô Vũ cũng còn thua xa anh em Biệt Kích Dù. Từ 20 năm nay, tù Biệt Kích chưa hề có ai được tha về. Không, cũng có một số anh em được về - nhưng... đó là “về với đất”.

   KHẨU LỆNH BIỆT KÍCH DÙ

Phân trại K2 của chúng tôi nằm cách K1 nơi giam giữ anh em Biệt Kích Dù chừng bốn cây số đường rừng. Ở cách K2 chừng một giờ đi bộ còn có K3 - nơi giam tù hình sự dữ nhất: cướp của, giết người. Từ huyện lỵ Như Xuân, vào đến K1 khoảng 15 cây số. Ngày xưa, hồi kháng chiến chống Pháp cuối thập niên 40, đi vào khu 4, nghe nói đến địa danh Hồi Xuân, La Hán ở trên rừng là đã rợn người. Nhưng mà đường đến Hồi Xuân-La Hán so với đường vào trại Thanh Phong thì chưa đi đến đâu... Một người bạn có vợ thăm nuôi vào được đến Thanh Phong, gặp chồng rồi là cứ ôm chồng mà khóc. Người vợ đau khổ ấy không dám nói cho người chồng xấu số biết chị vừa trải qua những khốn khổ nào.

Chỉ biết chị đi từ huyện Như Xuân vào đây chưa đầy 20 cây số mà hai ngày mới đến, phải ngủ giữa rừng. Cái gì đã xảy ra cho người đàn bà miền Nam một nách trên 30 ký quà cáp, không có xe phải đi bộ trên những con đường băng rừng lội suối. Nếu đang đi mà trời mưa đổ xuống thì là tai họa. Suối đang nông lội qua được, mưa xuống chẳng bao lâu là nó thành sông. Miền Trung đất hẹp, rừng không giữ được nước, nên trời đổ mưa xuống là nó theo sông theo suối cuốn trôi ngay ra biển. Suối liền trở thành sông. Người ở đâu ở đó làm gì có phương tiện sang sông nước đang lên cuồn cuộn. Nước lên rất mau mà xuống cũng mau.

Người đàn bà đi thăm nuôi chồng phải nghỉ qua đêm ở một cái chòi vắng ven rừng. Đêm đến, những “con người thú” đã khai thác đến tận cùng thân xác và của cải người đàn bà thân cô thế yếu giữa rừng sâu. Sáng ra chị đã muốn cắn lưỡi tự tử, nhưng vì không muốn bỏ rơi mấy đứa con nhỏ còn ở lại Sài Gòn, nên chị mới lê tấm thân nhơ nhớp đến gặp chồng đang cải tạo. Quà cáp cũng bị cướp đi luôn. Hai vợ chồng cứ ôm nhau mà khóc.

Mỗi lần biên chế là mỗi lần trại phá bỏ những khuôn sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất của tù gây dựng được trong những tháng ngày qua. Đội mới, chỗ mới, bạn mới. Cái thân quen vừa tạo lập đã mất đi. Chủ trương của trại tù là luôn luôn bắt tù nhân ăn ở trong một tình trạng tạm thời, nghi ngờ, bất trắc.

Câu chuyện đau khổ ấy, dù người chồng câm nín không tiện nói ra nhưng dần dần anh em ai cũng biết. Nó trở thành một nỗi âu lo âm ĩ trong đám tù cải tạo. Ai mà không mong một ngày nào đó được thăm nuôi, được gặp vợ, gặp con. Nhưng nếu vợ con mình, thân nhân của mình phải hứng chịu những tai vạ đau thương nhường ấy để được thăm nuôi mình thì khốn nạn cho vợ con mình quá. Nhưng lo thì lo vậy, biết tính làm sao. Thân mình còn chưa chắc là của mình thì còn lo cho ai được nữa.

Trước sự kiện mất an ninh, cướp bóc, hiếp đáp giữa đường như vậy trại cũng ra thông cáo là sẽ điều tra, sẽ trừng trị nhưng chưa thấy biện pháp nào cụ thể. Anh em Biệt Kích Dù thì ngược lại phản ứng tức thời. Đa số anh em Biệt Kích Dù ở đây là “diện rộng” tỏa ra đi lao động trên rừng. Trại Thanh Phong ngán ngại anh em Biệt Kích Dù nhưng trong thực tế, trại “nể” anh em. Trại nể anh em Biệt Kích Dù vì tác phong của họ, vì sự trên dưới một lòng của họ, nhưng lý do chính yếu nhất là vì Biệt Kích Dù chính là cái “túi tiền” của ban Giám thị trại. Trại tù ở trên rừng, đâu còn chấm mút được gì. Nhưng vì ở chốn rừng sâu, không ai léo hánh đến đây, nên trại dễ làm mưa làm gió.

Tục ngữ có câu “Nhất phá Sơn lâm, nhì đâm Hà bá”. Chỉ cần có nhân công biết nghề rừng, có kỹ thuật và có sức. Điều này thì không ai sánh được với Biệt Kích Dù. Rừng ở đây thuộc loại rừng đại ngàn nên gỗ quý thiếu gì, lại còn có quế. Quế Thanh Hóa xưa nay vẫn có tiếng trong nền y dược Đông Phương. Bây giờ không còn bao nhiêu nhưng một tổ anh em Biệt Kích Dù vẫn được lên rừng tìm quế cho trại trưởng Thùy “mồi”, nhưng bên ngoài gọi là đi lấu nứa. Anh em diện rộng Biệt Kích Dù có ba đội đi rừng lấy gỗ. Lấy về trại xây dựng thì ít mà lấy gử súc đem ra Thanh Hóa bán chui thì nhiều.

Tôi được biết trại trưởng Thùy “mồi”, phân trại trưởng K2 Vũ B. ai cũng được anh em Biệt Kích Dù lo sẵn mỗi người một số danh mộc (như lim, như sến, cán bộ vừa vừa thì có gỗ thao lao, bằng lăng) đủ làm một căn nhà bề thế ở quê nhà. Anh em Biệt Kích Dù như vậy là một thứ tù “thượng thừa” của trại. Tiếng nói của anh em rất được lắng nghe. Phần lớn anh em Biệt Kích Dù là hạ sĩ quan, có một số là dân sự nữa. Chỉ có một sĩ quan chỉ huy, đại úy Nguyễn Hữu Luyện. Chưa được gặp anh, nhưng tất cả anh em Biệt Kích Dù nói đến người chỉ huy của họ với tất cả lòng kính mến. Rất ít người được gặp vị sĩ quan Biệt Kích Dù này, vì anh không lao động, không đi ra ngoài. Tuy vậy, một mệnh lệnh của vị chỉ huy Biệt Kích Dù đưa ra, dù là ở trong cảnh tù đày, nhưng anh em Biệt Kích Dù vẫn tuân hành răm rắp.

Phản ứng trước sự mất an ninh con đường từ huyện Như Xuân đến trại, anh em Biệt Kích Dù đề nghị mở một “dịch vụ chuyên chở” từ huyện lỵ đến trại Thanh Phong. Lúc ấy đang có phong trào “hạch toán kinh tế”. Anh em Biệt Kích Dù có kế hoạch đóng hai cái xe trâu, do trâu của trại kéo cùng với hai anh em Biệt Kích Dù phụ trách. Hai xe, một ra một vào, giúp cho thân nhân của anh em cải tạo viên có phương tiện đi lại, khỏi phải gồng gánh đi chân như trước, trại cũng có một nguồn thu ổn định. Hoặc có thể dùng xe trâu để chuyên chở nông lâm sản hay hàng tiêu dùng cho trại và dân chúng. Đề nghị này được chấp thuận và sau đó gia đình cải tạo viên tới thăm nuôi có xe trâu chở hàng, chở người, tuy chậm nhưng mà chắc, không bị dân vùng đó hà hiếp, bắt chẹt về giá cả gồng gánh - quà cáp và thân nhân tù cải tạo cũng được bảo vệ an toàn.

Cùng một lúc với việc đóng xe trâu chở hàng, chở người, anh em Biệt Kích Dù “diện rộng” đi “rỉ tai” khắp các vùng thôn bản xa gần trong huyện Như Xuân “khẩu lệnh” của Biệt Kích Dù. Khẩu lệnh như sau: “Thân nhân cải tạo viên ở trại Thanh Phong này là bà con ruột thịt của Biệt Kích Dù. Anh em Biệt Kích Dù xưa nay không động đến ai, nhưng thằng nào con nào động đến thân nhân anh em cải tạo, dù là về của cải, dù là về nhân thân, là Biệt Kích Dù nhất định không để yên. Luật của Biệt Kích Dù là “mất một đền mười”. Động đến thân nhân cải tạo viên, nhẹ là chặt chân, chặt tay, nặng là giết mà giết cả nhà. Biệt Kích Dù không có gì để mất, đã nói là làm”.

Từ đó về sau, thân nhân cải tạo viên trại Thanh Phong đi thăm nuôi an toàn tuyệt đối...

   GẶP NGƯỜI CHỈ HUY BIỆT KÍCH DÙ

Hai cái xe trâu, một ra một vào từ trại Thanh Phong tới huyện Như Xuân do anh em Biệt Kích Dù phụ trách không những giúp cho thân nhân cải tạo viên thăm nuôi đi lại an toàn thuận tiện, mà còn là một đường dây giúp chúng tôi liên lạc với “thế giới bên ngoài”? Muốn “bắn” một cái thư khẩn cấp về Sài Gòn, muốn mua thuốc lào, thuốc lá, hay thuốc tây, báo chí... cứ nhờ anh Biệt Kích Dù đánh xe trâu. Chiều nào, vào khoảng ba, bốn giờ là xe trâu của anh Biệt Kích Dù cũng lịch kịch đi qua mấy lán của đội mộc, đội rau, đội mía, đội nông nghiệp tụi tôi ven đường. Biệt Kích Dù hầu như quen biết hết cán bộ coi tù. Anh em có “mánh” để giao thiệp với họ. Bao giờ anh em cũng làm đầy đủ thủ tục đầu tiên: đồng quà, tấm bánh, ít ra cũng là điếu thuốc có cán, hay là tờ báo.

Cán bộ nào tới đây cũng nhờ vả anh em Biệt Kích Dù không ít thì nhiều. Vài bó nứa sửa lại cái căn nhà, cây tre làm cột, ít vòng mây buộc lại cái cổng, cái giàn hoa. Cán bộ có chức có quyền thì như đã nói, anh em Biệt Kích Dù “đấm mõm” hết: không một bộ khung nhà bằng danh mộc thì cũng gỗ súc hay đóng bàn đóng ghế. Trên 250 anh em Biệt Kích Dù ở K1 làm đủ mọi thứ nghề, cung cấp nhân lực và kỹ thuật cho hoạt động của toàn phân trại K1. Diện rộng đi rừng lấy gỗ, lấy nứa, lấy mây - ở nhà thì có các đội mộc, đội rèn, đội xây dựng, đội chăn nuôi... anh em Biệt Kích Dù bao thầu hết. Tù thâm niên 20 năm có khác. Biết rõ hết đường đi nước bước của cán bộ coi tù.

Sở Bắc, Nha Kỹ Thuật
BTTM, QL VNCH

Trên nguyên tắc trại Thanh Phong K1 đặt dưới quyền chỉ huy của trại trưởng, trung tá Công An Thùy “mồi”, nhưng trên thực tế anh em Biệt Kích Dù suốt 20 năm tù đày gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, đại úy Nguyễn Hữu Luyện. Đây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động ở ngoài. Anh em Biệt Kích Dù đều tỏ ra rất nghiêm trang, rất kính cẩn mỗi khi nhắc đến “ông thầy” của họ. Truyện về đại úy Biệt Kích Dù này khá nhiều, đầy vẻ hoang đường, truyền thuyết. Đây là người sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố: “Tôi Nguyễn Hữu Luyện, đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa... tôi chưa thua các anh.

Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc chiến này”. - Bắt Nguyễn Hữu Luyện đi lao động, anh nói: “Các anh có thể giam tôi, bắn tôi, nhưng danh dự của một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không cho phép tôi làm những công việc mất nhân cách. Quy chế sĩ quan không cho phép tôi làm như vậy”. Anh đã bị kiên giam nhiều năm tại rất nhiều trại rùng rợn, dã man nổi tiếng, nhưng Nguyễn Hữu Luyện trước sau vẫn là Nguyễn Hữu Luyện, không thay đổi, không khiếp sợ, không khuất phục. Việc Nguyễn Hữu Luyện, không đi lao động như mọi tù nhân khác từ gần 20 năm nay đã trở thành một nề nếp đặc biệt, các trại tù ngoài Bắc dù muốn dù không đều phải chấp nhận.

Người ta chưa lường được hết quyền năng của Nguyễn Hữu Luyện đối với anh em Biệt Kích Dù như thế nào. Khi cần Nguyễn Hữu Luyện ra lệnh là tất cả anh em Biệt Kích Dù nghỉ hết. Như bữa ở trại Thanh Phong có một anh em Biệt Kích Dù ho “tổn” nhiều năm không có thuốc nên anh “về nước Chúa”. Phần lớn các anh em Biệt Kích Dù đều là người Thiên Chúa Giáo nhiệt thành, kể cả Nguyễn Hữu Luyện. Nói chuyện với anh em Biệt Kích Dù họ đều nói “anh em lãnh tụ Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu chúng tôi chưa có chết. Còn ẩn lánh đâu đó... Lãnh tụ chúng tôi ngày nào đó sẽ trở về...”. Nghe anh em Biệt Kích Dù ho tổn nằm xuống, các đội Biệt Kích Dù khi có lệnh xuất trại đều ngồi yên không đi làm.

Họ nói “được lệnh của Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện, anh em Biệt Kích Dù ở nhà để lo hậu sự cho người anh em vừa mới mất”. Cán bộ trực trại đến hỏi Nguyễn Hữu Luyện tại sao ngăn trở việc điều hành của trại. Nguyễn Hữu Luyện trả lời: “Các anh tôn trọng đồng chí của các anh thì chúng tôi cũng yêu thương đồng đội của chúng tôi. Nghĩa tử là nghĩa tận, anh em chúng tôi phải ở nhà để một lần cuối cùng vĩnh biệt người nằm xuống”. Sau điều đình mãi, chỉ có đội Biệt Kích Dù lo về cơm nước cho phân trại và bộ phận chạy máy điện là đi làm, kỳ dư anh em Biệt Kích Dù khác đều nghỉ hết.

Gặp gỡ anh em Biệt Kích Dù, nghe chuyện kể về đại úy Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện tôi vừa tự hào vừa buồn bã. Tự hào vì đồng đội đã có những người kiệt xuất như vậy, buồn bã vì nhìn lại bản thân, nhìn anh em xung quanh mình thấy khá nhiều người bất xứng. Những năm tháng trong trại tù giữa rừng núi Thanh Phong, anh em Biệt Kích Dù đối với chúng tôi, vừa là một đường dây yểm trợ vật chất, mà cao trọng hơn, còn là một nơi nương tựa tinh thần.

o0o

Năm 1980 khi lũ tù cải tạo chúng tôi đến huyện Như Xuân, chốn rừng sâu Thanh Hóa, gần biên giới Lào, chúng tôi thấy đây là một trại tù mới dựng giữa rừng sâu. Trước đó, chắc trại Thanh Phong này chưa có trên bản đồ các trại tù miền Bắc. Đây là một trại tù “ẩn giấu”. Lũ tù cải tạo chúng tôi đến đây, thuộc loại được đánh giá là “ác ôn nợ máu” gồm thành phần An ninh, Phòng nhì, Trung ương tình báo, Chiến tranh chính trị, Bình định nông thôn... thành phần mà “Cách mạng” cho rằng có liên hệ với CIA. Nhưng so với anh em tù nhân lưu cựu ở đây thì chúng tôi chưa có kí lô nào hết. Chúng tôi ở phân trại mới K2; phân trại chính và có mặt ở đây trước là K1, nơi giam giữ tù nhân kêu bằng CIA, nhưng thực ra chính là anh em Biệt Kích Dù từ đầu thập niên 60 đã nhảy dù ra Bắc.

Lũ chúng tôi mới tới được đưa ra tắm suối. Chợt gặp hai người, lưng mang dao quắm, khiêng mỗi người một bó nứa khá to. Hai người đặt bó nứa xuống và hỏi: “Các bác vừa ở Tân Lập, Vĩnh Phú xuống?” Chúng tôi gật đầu đồng ý. Hai người liền lật đật đứng nghiêm, giơ tay chào theo đúng lễ nghi quân cách và đồng thanh nói: “Chúng em là Biệt Kích Dù đây”.

Chúng tôi vừa xúc động, vừa hoang mang chưa biết nói năng gì thì một người vừa giơ ống tay áo lên lau mắt vừa nghẹn ngào: “Gần hai mươi năm nay chờ đợi các anh. Không ngờ lại gặp các anh trong tình cảnh này, đau đớn quá”.

Anh em Biệt Kích Dù về miền thượng du Thanh Hóa, gần biên giới Hạ Lào này trước chúng tôi chừng vài năm, sau khi đã trải qua những năm tháng tù đày khốn khổ ở những trại tù rùng rợn vùng biên giới phía Bắc: Trại Cổng Trời Hà Giang, trại “Mục xương” Cao Bằng hay trại Sơn La “âm u núi khuất trong sương mù”. Nếu quân “bành trướng Trung Hoa” không tấn công sau tỉnh miền Bắc sát biên giới hồi đầu 1979, thì có lẽ anh em Biệt Kích Dù vẫn còn quẩn quanh nơi rừng núi phía Bắc.

Ở đâu anh em cũng bị “cất giấu” chốn rừng sâu, cách biệt hẳn với loài người. Một anh Biệt Kích nói với tôi “Coi như ở đây, trại Thanh Phong này là tụi em được gần gũi với ‘nhân dân’ nhiều nhất. Cũng vì thế nên mới được gặp các anh hôm nay”. Trong số các anh em Biệt Kích Dù ở trại Thanh Phong năm ấy (1980) người tù lâu nhất là 20 năm, người ít nhất là 17 năm. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” chúng tôi đi cải tạo đã được 5 năm, đã thấy cuộc đời tù dài dằng dặc, nhưng so với anh em Biệt Kích Dù này thì thật là chưa thấm vào đâu. Anh em cải tạo tụi tôi vẫn còn liên lạc được với gia đình, vẫn nhận thư, nhận quà, có anh còn được người nhà từ trong Nam ra thăm nuôi nữa.

Mới đây một số anh em trẻ, cấp bậc nhỏ đã lác đác được về. Như vậy là ở cuối đường hầm chúng tôi đã có leo lét một vài tia sáng. Anh em Biệt Kích Dù thì từ 20 năm nay, hoàn toàn nằm trong bóng đêm, sống cách biệt hẳn với loài người, coi như những người “bị bỏ quên” trên hành tinh trái đất. Người tù truyền thuyết trong cổ tích Trung Hoa là ông Tô Vũ cũng chỉ chăn dê ở Hung Nô đâu có 17 năm. Xem ra thâm niên đi tù của ông Tô Vũ cũng còn thua xa anh em Biệt Kích Dù. Từ 20 năm nay, tù Biệt Kích chưa hề có ai được tha về. Không, cũng có một số anh em được về - nhưng... đó là “về với đất”.

   VỀ TRẠI TÂN KỲ

Trại Tân Kỳ này là một trại “trung chuyển”. Bao nhiêu tù chính trị ra Bắc còn lại hồi 76-77 trước khi về Nam về tập trung ở trại nầy và có một số khác ở trại Ba Sao, Hà Nam Ninh. Trại Tân Kỳ này chứa đựng đủ loại tù: tù chính trị, tù CIA, tù Biệt Kích, tù Fulro, tù hình sự thứ dữ. Trại này có hai khu, khu Tây và khu Đông. Chúng tôi gọi là “Tây Đức” và “Đông Đức” vì khu Tây tương đối dễ thở hơn khu Đông. Ở đây tôi gặp được nhiều loại người: ông Võ Tr. lãnh tụ VNQĐD ở miền Trung, Quảng Ngãi, linh mục duy nhất Trần Hữu L., những ông tướng Fulro, mấy ông thủ tướng, bộ trưởng “chính phủ trong bóng tối” và đặc biệt tôi được ở cùng lán với người thủ lãnh Biệt Kích Dù. Chính trong thời gian này, vì chung đụng, gần gũi nên tôi mới được hiểu thêm về người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện.

Anh em Biệt Kích Dù về trại Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh) chỉ còn độ trên 50 người. Vì có tay nghề riêng nên các anh em Biệt Kích Dù được biên chế về các đội chuyên môn như đội mộc, đội rèn, đội chăn nuôi... Riêng thủ lãnh Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện lại chuyển đến một đội khác, đội rau. Tôi xưa nay đi tù cũng có chút “chuyên môn” nên ở đây, trại mới, tôi cũng được xử dụng đúng theo “tay nghề”: chuyên trị về phân và nước tiểu. Ở các trại, đội rau nào cũng cần đến loại phân bón này. Tôi nghiệm ra ở các trại cũ như Yên Hạ (Sơn La), Tân Lập (Vĩnh Phú), Thanh Phong (Thanh Hóa) và bây giờ ở đây Tân Kỳ, đồng nghiệp phân tro của tôi thường được tuyển lựa trong mấy ngành Quân huấn, Quân pháp hay Chiến tranh chính trị.

Đồng nghiệp cũ của tôi là thượng tọa nguyên giám đốc Nha Tuyên Úy Phật giáo, là mục sư Tin Lành, là Thẩm Phán Tòa Án Quân Sự, là giáo sư Trường Võ Bị Quốc Gia v.v... Ở đây thì đại loại cũng như vậy, ở khu Tây Đức này có bốn lán, có bốn người lo về nhà cầu thì một là biện lý, một là đại đức, một là ông thầy dạy Anh văn trường Chiến Tranh Chính Trị và tôi. Sự tuyển dụng “trước sau như một” này là chấp hành đúng tinh thần “Mao-ít”: “Chữ nghĩa không bằng cục phân”. Tôi lại nhớ đến thái độ của đại úy Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện khi anh nhất định không đi lao động. Ở đây cũng như ở các trại khác từ trên 20 năm qua, và đã trở thành biệt lệ, Nguyễn Hữu Luyện được biên chế về đội rau nhưng anh nhất quyết không đi làm.

Cái lạnh ở miền Trung này đối với Nguyễn Hữu Luyện xem ra không có nghĩa lý gì. Anh bao nhiêu năm nằm trong hốc đá ở trại cổng trời Hà Giang. Bao nhiêu năm cùm kiên giam trong trại mục xương Cao Bằng. Ở miền cực bắc nước ta, cái lạnh còn ác liệt hơn nhiều. Người tù Biệt Kích trên 20 năm, đi qua mọi gian lao thử thách.

Toán “nhà cầu” tụi tôi khoảng 10 giờ sáng là công việc tạm xong. Phân, nước tiểu đã dọn sạch, chuyển cho đội rau. Nhà cầu đã quét tước, rắc vôi. Lúc bấy giờ là lo đi tắm vì dù đã đeo khẩu trang, bịt mũi bịt mồm, nhưng tự thấy thân thể mình hôi hám quá. Mùa nực được đi tắm là một cái sướng, nhưng mùa rét mà phải đi tắm trong khi bụng đói cồn cào lại là một cực hình. Nước suối lạnh cắt da, mấy tên tù mặt mũi xám xịt, thân thể gầy còm, co ro run rẩy, ngần ngại đứng bên bờ suối. Nguyễn Hữu Luyện không lao động, người luôn luôn sạch sẽ, nhưng ngày nào dù rét đến đâu Luyện cũng cùng chúng tôi đi tắm. Người lội xuống suối đầu tiên là Luyện. Anh nói: “cứ ào một cái là xong”. Cái lạnh ở miền Trung này đối với Nguyễn Hữu Luyện xem ra không có nghĩa lý gì. Anh bao nhiêu năm nằm trong hốc đá ở trại cổng trời Hà Giang. Bao nhiêu năm cùm kiên giam trong trại mục xương Cao Bằng. Ở miền cực bắc nước ta, cái lạnh còn ác liệt hơn nhiều. Người tù Biệt Kích trên 20 năm, đi qua mọi gian lao thử thách bằng một câu nói vô cùng giản dị: “Cứ ào một cái là xong”.

Ở gần bên, trong cùng một lán, tôi thấy Nguyễn Hữu Luyện sống như một thiền sư. Trong tù có một vấn đề hết sức quan trọng là ăn. Ai cũng đói mờ người. Bữa ăn và cái ăn là giấc mơ lớn nhất của tù. Nhưng đối với Nguyễn Hữu Luyện hình như anh coi rất nhẹ vấn đề ăn. Anh được phát đồ ăn thế nào, ăn thế ấy, mà ăn rất lẹ, rất nhanh, không biết anh ăn lúc nào. Không thấy anh phàn nàn bao giờ về vấn đề đói. Hình như anh ở tù lâu quá, đói trở thành thường trực nên anh đã quen đi. Một vài anh em được thăm nuôi, hoặc nhận quà, có lòng quý mến anh, biếu anh cục đường, nắm xôi, tấm bánh hay mời ăn một bữu cơm, nhưng trước sau không thấy anh nhận của ai một tặng vật nào. Tôi một bữa nhận quà có đưa đến anh một chiếc bánh chưng nho nhỏ. Anh nhất định chối từ. Tôi mới nói: “Chỗ anh em sao anh kỹ quá”. Nguyễn Hữu Luyện cười cười, nắm tay tôi mà nói nhỏ: “Bao nhiêu năm tôi tập cho cái bao tử nó đòi hỏi thật ít. Bây giờ anh em cho tặng vật, ăn vào nó quen dạ đi thì lại khổ đấy anh ạ”.

Nhưng có một thứ mà ai cho anh cũng nhận. Nhận một cách hân hoan. Đó là xà bông. Không hiểu sao, Nguyễn Hữu Luyện có một nhu cầu về tắm rửa, về sạch sẽ một cách lạ lùng. Xà bông đối với anh thật là cần thiết. Như đã nói ở trên, chúng tôi dân “nhà cầu” làm việc xong, mình mẩy hôi hám nên cực chẳng đã mùa rét mà phải đi tắm. Nguyễn Hữu Luyện không đi lao động mà trưa nào cũng ra suối với chúng tôi.

Nguyễn Hữu Luyện người rất cao, ít ra là 1,75m. Quần áo trại phát anh mặc vào ngắn cũn cỡn. Người đã cao anh lại còn đi đôi guốc mộc do anh đẽo lấy nên trông lại càng lênh khênh. Đi tù anh nào anh nấy chân nứt nẻ, bè ra như tổ tiên giao chỉ, riêng Nguyễn Hữu Luyện chân trắng bóc, gót đỏ hồng. Trông gót chân của người Biệt Kích Dù đi tù trên 20 năm tôi bửng nhiên nhớ đến hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương thuở nào:

Ta van cát bụi trên đường,
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Trong món đồ hàng ngày đi tắm của Nguyễn Hữu Luyện có một vật rất lạ, rất ít có ở đây. Tù đi tắm thì cứ thế cởi truồng ra, vục tay xuống suối mà kỳ cọ, tắm rửa. Hoặc buổi sáng có ra giếng rửa mặt thì cũng chỉ mang cái thùng kéo nước với bàn chải đánh răng là cùng. Nguyễn Hữu Luyện đi tắm khác với người ta, mang theo một cái chậu men xanh thật đẹp. Màu men óng ả chói ngời... tương phản rõ rệt với màu cố hữu của trại tù là màu xám xịt. Tôi mới hỏi Nguyễn Hữu Luyện:

— “Ở đâu mà có cái chậu men xinh đẹp vậy?” Nguyễn Hữu Luyện trả lời: “Tôi cũng không ngờ là tôi lại nhận cái chậu này. Của tên trại trưởng trại “mục xương” ở Cao Bằng tặng cho tôi đấy.


Cao Bằng giáp với biên giới Trung Hoa nên vẫn có hàng lậu đi từ Trung Quốc sang. Cái chậu này là đồ làm từ Quảng Châu có nhãn hiệu chỉ rõ. Dạo cuối thập niên 70, tên trại trưởng thiếu tá công an nó hành tôi ghê lắm. Nhất định nó bắt tôi đi lao động. Tôi thì nhất định không đi. Nó liền cùm chân. Cùm chán rồi đem xuống hầm tối. Rồi bắt nhịn ăn. Mùa lạnh nó còn đổ nước xuống hầm nữa. Tôi người Công giáo nên tôi cầu Đức Mẹ Maria, trong cơn thập tử nhất sinh, tôi cũng cầu luôn Phật Bà Quan Âm nữa.

Nó hành tôi mãi năm này sang năm khác mà cuối cùng tôi vẫn còn sống. Nhưng mà chết thì thôi, tôi nhất định không đi lao động. Không chịu thua chúng nó”.

- “Như vậy thì tên trại trưởng này nó hận anh ghê lắm, tại sao nó lại tặng anh cái chậu này?”

- “Tôi cũng không biết nữa, hắn hành tôi luôn mấy năm, nhưng cuối cùng hắn thả tôi ra khỏi hầm kiên giam. Một bữa hắn cho gọi tôi lên. Hắn nói: “Tôi sắp đổi đi trại khác, có phải anh ưa tắm rửa lắm phải không? Tôi tặng anh cái chậu Trung Quốc này”. Tôi từ chối nhưng hắn ta cứ để cái chậu lại, rồi bắt tay từ biệt. Chẳng đặng đừng, tôi phải giữ cái chậu men xanh này, mà tôi cũng không hiểu tại sao hắn lại làm như thế”.

   BẠN TÙ FULRO

Ở trại “Tây Đức” có bốn lán thì ba lán là tù chính trị ở cùng với tù Fulro, lán còn lại là tù hình sự. Trại Tân Kỳ này, thời kỳ “phồn thịnh” chứa trên 1000 tù, bây giờ tù chính trị được đưa về Nam khá đông nên cả hai khu “Đông Đức - Tây Đức” chỉ còn lại chừng 500 tù. Chúng tôi ở đội rau cùng lán với anh em Fulro thuộc đội “củ quả”, chuyên trồng bí, trồng khoai, trồng tra, trồng mía... Những anh em Fulro theo chức danh ghi trong “lý lịch” đều là những nhân vật lớn như thiếu tướng, chuẩn tướng, đại tá, trung tá, thiếu tá v. v... nhưng thật ra chỉ là những đồng bào thiểu số không biết chữ, nói tiếng Việt không bỏ dấu, rất khó nghe... luôn luôn cười nhe hai hàm răng cà sát lợi.

Sự ngây thơ, chân thật hiện rõ trong từng dáng điệu, từng lời nói. Nghe, nhìn họ khó có thể tưởng tượng đó là tướng, tá trong mặt trận giải phóng liên kết các dân tộc bị áp bức Fulro (Front unifié pour la libération des races opprimées). Phong trào này đã phát khởi từ lâu, giữa những năm 60 và đã gây phiền nhiễu không ít cho chính quyền miền Nam. Sau tháng 4 đen 1975 khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức Fulro không những không tiêu trầm mà ngược lại Fulro lại trở thành một mặt trận võ trang chống đối cộng sản rất mạnh mẽ tại miền cao nguyên trung phần thuộc Hoàng Triều Cương Thổ cũ. Rất đông các đồng bào thiểu số thuộc nhiều bộ tộc ở Kontum-Pleiku bị bắt, cho rằng có dính líu tới Fulro. Riêng ở trại Tân Kỳ này có tới hơn 200 tướng, tá Fulro bị bắt giữ.

Chúng tôi tù ngụy quân, ngụy quyền, biệt kích ở với anh em Fulro tương đối thuận thảo, không thấy anh em Fulro lộ vẻ “căm thù” gì hết. Nhiều khi anh em còn tiếp tế củ khoai, đẫn mía... Anh em đội rau thì đưa lại su hào, rau cải. Không nói ra nhưng tù chính trị và tù Fulro thông cảm nhau trong tình cảnh “cùng một lứa bên trời lận đận”. Nhưng một buổi tối có một sự kiện không ngờ xảy ra. Trong số anh em Fulro ở lán tôi có một anh còn trẻ, nghe nói là thiếu tá, trước đây có đi lính Biệt Kích Mũ Xanh (green beret) của Mỹ hoạt động trên vùng Cao Nguyên “Hoàng Triều Cương Thổ”. Anh này chắc làm việc lâu ngày bên người Mỹ, nên ở nơi anh hiện ra một sự kiện nghịch thường.

Anh không biết chữ nhưng ngược lại nói tiếng Anh rất “chạy”. Anh nói tiếng Anh dễ hơn, giỏi hơn nói tiếng Việt nhiều, một loại tiếng Anh người ta thường nghe thấy nơi các ghetto ở Mỹ. Tâm tính anh cũng là một sự cộng hưởng kỳ lạ, cái thơ ngây man dã ở bên cái khôn lanh quỷ quyệt. Anh có củ khoai, khúc sắn thì anh đánh đổi lấy rau, lấy đường với anh em tù chính trị “tiền trao cháo múc”. Đêm nằm anh nghêu ngao một bài hát núi rừng nào đó, nghe không hiểu được nhưng phảng phất một nổi buồn rờn rợn, trầm thống như nghe một khúc spiritual của người da đen ở Hoa Kỳ.

Anh thạo nghề mưu sinh trong rừng nên anh luôn luôn bắt được cá, lươn, ếch, nhái, có khi rắn nữa để cải thiện bữu ăn. Ăn không hết anh mới bỏ những con vật ấy vào trong một cái hũ sành để làm một thứ mắm riêng. Cái hũ sành nầy anh để dưới sàn, gần chử đầu nằm. Lâu ngày mắm có mùi, anh thì chịu được nhưng mấy anh em tù chính trị nằm gần chịu không nổi mới nói với anh trực buồng. Anh trực buồng, một anh công binh già cận thị phải nhờ một anh Fulro có tuổi, nghe nói là đại tá, nói với anh bạn thiếu tá Fulro xin dời cái hũ mắm của anh đi chử khác.

Anh này nghe xong gạt phăng ông già đại tá sang một bên rồi vùng vằng đi nằm, hết sức bất bình. Cái hũ mắm càng ngày bốc mùi càng nặng, nên một buổi nhân mọi người đi làm hết, anh trực buồng mới mang cái hũ ấy ra ngoài, đặt ở sau lán, bên đống củi. Đi làm buổi chiều về khi lán đã đóng cửa, anh thiếu tá Fulro mới nhận thấy cái hũ mắm của anh không còn ở chử cũ. Anh nổi giận đùng đùng, chửi mắng loạn xạ. Một người nào đó mới chỉ anh trực buồng.

Anh này chạy bay đến chử anh trực buồng già cận thị, nắm ngực áo lôi xền xệch hét lên: “Sao mày lấy của tao, I’m gonna to get you, to kill you...” (Tao sẽ đánh mày, giết mày). Một anh Fulro có tuổi ở gần đấy liền đứng dậy, định can ra; anh Fulro trẻ tuổi đang cơn nóng giận, đẩy anh Fulro già ngã chúi, kéo áo anh trực buồng rách toạc, cái kính cận văng xuống đất. Người ta không biết sự thể sẽ diễn biến ra sao khi anh Fulro đang lên cơn điên loạn rừng rú.

Bửng có một người cao lênh khênh bước tới, đó là tay thủ lãnh Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện. Không biết bằng một chiêu thức Judo hay cẩm nã thủ tuyệt vời nào, hai tay của anh Fulro điên loạn đã bị khóa chặt. Anh Fulro vùng vẫy nhưng không thoát ra được. Nguyễn Hữu Luyện nói gằn giọng: “Đừng làm ồn”. Tay Fulro hét lên: “It's none of your business” (không phải chuyện anh đừng dính vô). Luyện ôn tồn nói tiếp: “Chuyện không đáng gì. Sáng mai chúng ta gặp nhau giải quyết”. Không biết lời nói của tay thủ lĩnh Biệt Kích Dù có một mãnh lực gì mà sau đó tay thiếu tá Fulro đang trừng trợn bỗng nguôi đi, nhìn xuống đất, Nguyễn Hữu Luyện dừng tay khóa, nhẹ nhàng vỗ vai anh Fulro, khẽ nói “Thôi đi nghỉ đi...”.

Sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố: “Tôi Nguyễn Hữu Luyện, đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa... Tôi chưa thua các anh."

Sáng sớm hôm sau trước khi đi làm, hai người (anh thiếu tá Fulro và Nguyễn Hữu Luyện) có gặp nhau và không hiểu sao cái hũ mắm được để lại ngoài lán, bên đống củi. Mối giao hảo giữa anh em tù chính trị với tù Fulro, tưởng rằng sau vụ này sẽ căng thẳng, không ngờ ngược lại, nó tốt hơn lên, kiểu “đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận anh em”. Tay Fulro Biệt kích mũ xanh bây giờ mới nhận ra “ông thầy”, ở nơi thủ lãnh Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện. Thỉnh thoảng buổi tối tôi lại thấy anh bạn Fulro tới chỗ Nguyễn Hữu Luyện nói tiếng Anh, nói bất cứ chuyện gì để cho Nguyễn Hữu Luyện luyện “accent”. Có khi anh ta còn đem tới củ khoai, đẫn mía nữa, nhưng theo như cựu lệ, Nguyễn Hữu Luyện chỉ cám ơn mà không nhận bao giờ.

Sau khi những tấm hình của vợ con anh nhờ một anh em Biệt Kích khác được gởi tới trại Tân Kỳ, tôi một bữu mới hỏi Nguyễn Hữu Luyện “Tại sao anh không có thư, có quà riêng của gia đình?” Trầm ngâm một lát Nguyễn Hữu Luyện mới nói:

— “Thực tình tôi không nghĩ là vợ con tôi còn đó, đợi chờ tôi. Khi một số anh em Biệt Kích Dù được về, tôi có nhờ anh em kín đáo đi tìm hộ... Rất may là đã tìm ra. Vợ con tôi đã rời Sài Gòn, xuống Cần Thơ sinh sống. Tôi cũng đã dự phòng trường hợp này. Gần 20 năm nay vợ con tôi, anh em, họ hàng, bè bạn tôi nghĩ rằng tôi đã chết.

Thôi cứ để như thế cho tiện, chết là hết, phải không anh. Không phiền ai, gây trở ngại cho ai. Nhược bằng vợ con tôi còn nghĩ đến tôi, còn chờ đợi tôi thì đó là ơn riêng của Chúa đã ban cho. Nhưng tôi đã nói trước là vợ con tôi nếu còn đó, khi nhận được tin tôi thì không bao giờ được viết thư, được gửi quà. Nhận thư nhận quà rồi là tôi phải trả lời. Làm sao mà mình không thương vợ, thương con mình cho được. Xưa nay mấy chục năm ở các trại tù, mình là thằng trọc đầu, trên không chằng dưới không rễ, họ không nắm mình vào đâu được. Bây giờ mình thương vợ mình, thương con mình, họ đọc thư, họ biết như vậy, thì mình không sống được yên đâu anh ơi. Họ không hành được mình, bây giờ họ hành vợ con mình để bắt mình quy phục, thì làm sao đây thưa anh. Cho nên tôi không muốn nhận thư, nhận quà riêng là vì thế...”

   ĐỨNG VỮNG KHÔNG LÙI

Có lẽ trại Tân Kỳ này trước đây đã xây dựng trên một vạt rừng. Trong sân trại còn một số cây cổ thụ còn sót lại. Ở cuối sân “tập kết” bên “Tây Đức”, trước cửa mấy lán tù có một cây đa cổ thụ. Cụ Nguyễn Du đã nói “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ở đây không những người buồn, (một lũ tù nhân rạc rài đói cơm thiếu áo xác xơ như một lũ vượn người thời mông muội) mà cây lá cũng buồn theo. Cây gì mà khẳng khiu, trơ trụi, không còn một chút màu xanh, chỉ có những rễ phụ nâu đen rũ xuống, trông giống như một ông già đầu râu tóc bạc đang đứng giơ tay chịu tội giữa trời.

Xưa nay cây thường là một biểu tượng thuần hậu của thiên nhiên: cây cho lá cho hoa, cho bóng mát, cho nơi che chở, cho chim ca và gió hát. Ở đây thì ngược lại; cây đa già trơ lá trụi cành đang biểu tượng cho sự tàn bạo của con người và sự lạnh lùng của thiên nhiên khắc nghiệt. Lũ tù nhân chúng tôi ít khi dám ra chơi dưới gốc cây đa. Những cái rễ ngoằn ngoèo nổi lên sần sùi trông giống như một đàn trăn gió đang rình mồi, những hốc tối mò làm liên tưởng đến hang ổ của lũ cáo, chồn, rắn rết, nhưng điều chúng tôi ngại nhất là bên gốc cây đa này nghe nói đã có hơn một người tù treo cổ chết. Người tù treo cổ thường thiêng lắm. Tiếng bình dân gọi là “có hương”. Con ma treo cổ thường dẫn dụ một người nào khác kết liễu cuộc sống giống như mình để oan hồn uổng tử kia được đầu thai kiếp khác.

Hôm ấy vào khoảng cuối tháng 3 năm 1983. Trời dù đã cuối Xuân nhưng cái lạnh miền bán sơn địa vẫn còn buốt giá. Như thường lệ buổi sáng các đội ra sân tập kết ngồi xuống, đợi điểm danh xuất trại đi làm. Chợt một tiếng thét thất thanh vang dậy, phát ra từ cuối sân tập kết, phía cây đa. Mọi người nhìn lên, một bóng người đang đứng trên chạc ba của cây đa trụi lá, vươn cổ ra hò hét:

- “Tộ cha bây. Bây hại dân hại nước. Bây hại con tao, hại vợ tao. Tộ cha bây, bất nhân, vô hậu...”.

Cán bộ trực trại vội vàng đi lại gốc cây đa, giơ tay quát nạt:

- “Anh kia, anh chửi ai?”

- “Tao chửi bây, chưởi tộ cha tụi bây!”.

Một công an bảo vệ xách carbine chạy tới, kéo “cu lat” loạch xoạch. “Anh kia, xuống ngay”. Một phát súng nổ vang lên; mọi người giật mình nhưng nhìn lại, đó chỉ là phát súng chỉ thiên, bắn dọa... Người đứng trên cây, nhìn kỹ, cổ đã quàng sẵn vào một sợi dây thừng buộc vào một cành cây cao cạnh đó. Người đó nói như thét: - “Bắn cho tao một phát đi, tao khỏi thắt cổ”.

Cán bộ trực trại giơ tay, anh công an bảo vệ hạ carbine xuống.

Người đứng trên cây tiếp tục chưởi bới, tiếp tục hò hét, trong khi cán bộ trực trại hấp tấp đi ra trước sân tập kết, vội vã thổi còi ra lệnh xuất trại gấp. Tù nhân vừa xúc động vừa tê điếng trước phản ứng bất ngờ của một bạn tù. Các đội hôm nay được ra khỏi trại rất mau, rất vội. Trại không muốn các tù nhân ở lại nghe những lời chửi rủa tận từ kia. Anh em xì xào “Ai đấy nhỉ?”

- “Nghe như tiếng Th. thiếu tá địa phương quân người Huế hay Quảng Bình, Quảng Trị”

- “Đúng hắn rồi còn ai nữa, nghe đâu ít lâu nay hắn bị tâm thần”.

Các đội tù xuất trại hết rồi. Sân tập kết trở lại vắng người, im vắng. Tiếng chưởi rủa của thiếu tá Địa Phương quân Th. vẫn còn róng rả: “Tộ cha bây, bây giết con tao”. Mấy tên làm việc trong trại như đội “nhà cầu” tụi tôi vẫn tiếp tục làm việc nhưng không ngớt băn khoăn, lo lắng cho người bạn tù đang nổi cơn điên loạn. Ông bạn đồng nghiệp nhà cầu, Đại Đức Như L. cho hay “Tội cho anh ta lắm. Anh ta đi tù cải tạo mà con trai mới lớn lên ở nhà lại phải đi ‘nghĩa vụ’ sang Campuchia. Anh vừa nhận tin con trai anh mới chết; chết mà không mang được xác về.

Vợ anh ta là cô giáo, nghèo sát ván, ngất đi khi nhận được tin con và từ đó bịnh luôn. Đi làm lương không đủ nuôi con, làm gì có quà cáp cho chồng nữa. Th. lâu nay là con bà phước. Ở nhà vợ anh ta ốm nặng, đứa con gái phải nghỉ học ở nhà nuôi mẹ, nuôi em. Đứa em trai út khốn thay lại bị bệnh tâm thần ngớ ngẩn. Cả nhà bây giờ trông vào một cô con gái mới đâu 15, 16 tuổi. Đêm nằm anh Th. thường ú ớ gọi vợ, gọi con... Anh ta vẫn đi làm được, không ngờ sáng nay anh ta lại phản ứng bất thường như vậỵ..”

Anh Th. vẫn đứng trên cây, vẫn chửi bới, hò hét. Nhưng tiếng chửi bới, hò hét thưa dần vì không còn “đối tượng”. Vào khoảng 9 giờ sáng, trại trưởng Trung tá công an T. mới từ từ đi tới gốc cây đa nói:

- “Anh Th., có chuyện gì xuống đây tôi giải quyết”.

— “Bắn cho tôi một phát đi, tôi không xuống”.

Thấy không xong, trại trưởng liền đi vào trong lán tù. Hình như y đi tìm một người nào đó. Tôi được nghe nói là trung tá công an đi tìm đại úy Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện.

Trời đã gần đứng bóng. Anh bạn tù nổi cơn điên vẫn đứng trên cây, cổ quàng sẵn vào một vòng dây thừng oan nghiệt. Chợt có một bóng người cao lênh khênh đi ra đứng dưới gốc cây đa. Đó là Nguyễn Hữu Luyện. Hai người đứng nói chuyện gì với nhau không rõ. Nhưng sau đó người tù nổi cơn điên Th. tháo bỏ cái vòng dây oan nghiệt ra khỏi cổ, và từ từ trèo xuống. Nguyễn Hữu Luyện đỡ người bạn tù bước xuống đất và dìu anh ta vào trong lán. Không biết người thủ lãnh Biệt Kích Dù đã nói những gì, đã làm thế nào để cho người tù khốn khổ kia trở lại với cuộc đời.

o0o

Những ngày tiếp theo đó cả trại Tân Kỳ nín thở theo dõi hậu quả đến với người tù cựu thiếu tá Địa Phương Quân. Hậu quả đầu tiên là biên chế lại. Tù đội này đổi sang đội kia, từ lán này sang lán khác. Giản bớt khu “Tây Đức”. Cho một số đội sang khu “Đông Đức”. Mỗi lần biên chế là mỗi lần trại phá bỏ những khuôn sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất của tù gây dựng được trong những tháng ngày qua. Đội mới, chỗ mới, bạn mới. Cái thân quen vừa tạo lập đã mất đi. Chủ trương của trại tù là luôn luôn bắt tù nhân ăn ở trong một tình trạng tạm thời, nghi ngờ, bất trắc.

Sau vụ biên chế này, tôi vẫn làm công tác nhà cầu nhưng không ở cùng lán với Nguyễn Hữu Luyện nữa. Ba ngày sau, một chuyến xe GMC (lấy được của miền Nam) chở một số tù mới đến trại Tân Kỳ. Tôi vội chạy ra xem có gặp lại người quen? Tưởng bạn tù nào xa lạ, hóa ra toàn là bạn cũ. Đây là chuyến xe chở một số các linh mục tuyên úy Công giáo từ trại Bình Đà ngoài Bắc đổi trại vào miền Trung. Các bạn tù linh mục này năm ngoái tháng 4, 1982 đã từ biệt tụi tôi ở trại Thanh Phong ra Bắc. Tôi gặp lại bạn cũ, đội trưởng đội rau kiêm đội trưởng văn nghệ là nghề phụ, linh mục Nguyễn Quốc T. Chúng tôi ôm lấy nhau, linh mục Nguyễn Quốc T. nói “Xã hội tù xoay chuyển vòng tròn. Mình lại gặp nhau ở đây, mừng quá”.

Nhưng cái mừng của người bạn cũ không được lâu. Ngày hôm sau (tôi nhớ là ngày 23 tháng 3, 1983), chuyến xe GMC lại chở một số tù từ trại Tân Kỳ đi nơi khác. Trong số 33 người tù di chuyển kỳ này có tên tôi. Chuyến xe đi vội vã. Ngồi trên xe chật cứng, tôi giơ một bàn tay vẫy vẫy. Từ biệt trại Tân Kỳ, từ biệt những người bạn tù đã cùng tôi trải qua một thời kỳ gian khổ. Tôi nhìn thấy trong lán tù ở lại có những bàn tay vẫy theo. Trong số những bàn tay tiễn biệt kia, biết đâu chẳng có bàn tay của người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện. Tôi không được gặp lại các anh từ ngày ấy, đến nay thấm thoát đã 12 năm rồi. Xin những anh em tù cải tạo nào từng có mặt tại trại Tân Kỳ đầu năm 1983, hiện giờ ở hải ngoại tình cờ đọc đến những dòng này, nếu các anh được biết tin gì về người bạn tù khốn khổ của chúng ta Thiếu tá Th. Địa Phương Quân xin các anh vui lòng cho tôi được biết.

Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện - (Khóa 4 Thủ Đức)
Sĩ Quan Sở Bắc, Nha Kỹ Thuật
BTTM, QL VNCH

Đặc biệt về người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện tôi lúc nào cũng nhớ anh, cũng cảm phục anh, nhưng có một điều tôi hứa với anh mà tôi không giữ được tròn. Một buổi sau khi anh cho tôi xem tấm hình con gái anh bữa lấy chồng, đang cúi lạy trước chân dung người cha đã khuất (là anh) tôi mới nói với anh rằng “Sau này nếu có dịp tôi sẽ kể, sẽ viết ra chuyện này”. Anh nắm tay tôi mà nói: “Thôi đừng anh ạ, mình xét ra cũng chỉ làm nhiệm vụ của một người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến tranh bí mật. Quy luật của nó là thế thì mình đành phải chịu, thưa anh”.

Nhớ lời nhắn nhủ của anh, nên mấy năm nay ở nước ngoài, có dịp viết đôi ba bài báo tôi đã muốn lắm, muốn được kể chuyện người tù kiệt xuất là anh và đồng đội của anh, những anh em Biệt Kích Dù bất khuất. Nhưng tôi cứ đắn đo e ngại mãi. Bây giờ tôi được biết rõ là anh đã tới Hoa Kỳ được một thời gian và anh đang đứng ra lo lắng cho một số anh em Biệt Kích Dù đồng đội của anh làm thủ tục xuất ngoại. Chuyện Biệt Kích Dù trên 30 năm cũ tưởng đã nằm im trong cát bụi lãng quên bây giờ đang được mở lại hồ sơ. Cho nên bữa nay tôi mới dám viết ít dòng này với tư cách của một người bạn tù cùng trại nói ra những điều tai nghe mắt thấỵ...


Phan Lạc Phúc


https://saigonecho.com/main/vanhoc/tuybut/34535-ngi-tu-kit-xut-bit-kich-du.html



 

 

Mỗi lần biên chế là mỗi lần trại phá bỏ những khuôn sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất của tù gây dựng được trong những tháng ngày qua. Đội mới, chỗ mới, bạn mới. Cái thân quen vừa tạo lập đã mất đi. Chủ trương của trại tù là luôn luôn bắt tù nhân ăn ở trong một tình trạng tạm thời, nghi ngờ, bất trắc.


===========================

"Identity" trong cuốn Dreams in the Shadow, Mandy Thomas (Tiến Sĩ Nhân Chủng Học) có bàn về "identity" như “Identity” trong cuốn “Dreams in the Shadow”:

  • Identity liên quan tới sự biểu hiện của bản thân, và những định nghĩa về bản thân được gắn liền với không gian (trong khái niệm về thời gian và không gian của sự việc).
  • Identity là một quá trình xây dựng và thực hành của bản thân. Các quá trình này không bao giờ hoàn tất và hình thành trong phạm vi của sự biểu hiện.
  • Bản chất của Identity là hay thay đổi.

Qua ba khái niệm trên, chữ Identity có thể dịch ra là "đặc trưng", "đặc thù" vì "Identity" chỉ biểu hiện nét đặc biệt nào đó và luôn luôn thay đổi theo điều kiện của không gian. Mỗi người đều có rất nhiều "identities": "identity về học vấn", "identity về nghề nghiệp", "identity về giới tính: bisexuality; homosexuality; heterosexuality" v. v...



Giữ miền Tây - Chiến Lược Của Tổng Thống Thiệu

https://ia902607.us.archive.org/13/items/TamTuTongThongThieu_NguyenTienHung/07_CatCauBenLucRutVeMienTay.mp3



#B0E0E6

***********************************************************



Xoay Sở Lúc Tuyệt Vọng

Chương 6

 





1

 







Hội nhập với thế giới

Hội nhập với thế giới cũng có nghĩa là cái gì hay của nhân loại thì mình bắt chước. Chẳng hạn môn túc cầu do người Anh nghĩ ra nhưng dân Ba Tây bắt chước và bắt chước hay quá cho nên nói tới túc cầu bây giờ, thế giới nghĩ tới Ba Tây chứ không nghĩ tới Anh Quốc. Vậy thì bắt chước điều hay không phải là điều tủi nhục hay xấu hổ.







 

2

 


Kiến trúc sư ngôi chùa rất am hiểu thẩm mỹ đạo Phật bởi chỉ có thể nói chùa là khang trang chứ không thể nói đồ sộ cao vút như ngọn giáo chọc thẳng lên trời như kiến trúc của nhà thờ Gia tô giáo.

Chùa ẩn mình dưới chân núi vắng vẻ hiu quạnh. Kiến trúc sư tạo ngôi chùa này hầu như chỉ dùng có hai màu: Màu đá xám hòa với thiên nhiên và màu nâu với sắc đỏ vừa phải.

Nói sắc đỏ vừa phải tức không làm cho màu trở nên rực rỡ vì chỉ cần tăng sắc đỏ lên chút là chuyển thành màu của đế vương.


 

3

 


Kiến trúc sư ngôi chùa rất am hiểu thẩm mỹ đạo Phật bởi chỉ có thể nói chùa là khang trang chứ không thể nói đồ sộ cao vút như ngọn giáo chọc thẳng lên trời như kiến trúc của nhà thờ Gia tô giáo.

Chùa ẩn mình dưới chân núi vắng vẻ hiu quạnh. Kiến trúc sư tạo ngôi chùa này hầu như chỉ dùng có hai màu: Màu đá xám hòa với thiên nhiên và màu nâu với sắc đỏ vừa phải.

Nói sắc đỏ vừa phải tức không làm cho màu trở nên rực rỡ vì chỉ cần tăng sắc đỏ lên chút là chuyển thành màu của đế vương.


 

<p align="center">&nbsp;</p> <center> <table style="text-align: center;width:100%;" border="0" cellpadding="2" cellspacing="2"> <tbody> <tr> <td> <img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/brownred_1.jpg" border="0" height="23" width="23"> </td> <td style="" background="http://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/brownred_1.jpg"> </td> <td> <img src="https://i682.photobucket.com/albums/vv190/doublenguyennguyen/brownred_1_zps1ccytfwg.jpg" border="0" height="23" width="23"> </td> </tr> <tr> <td style="" background="https://i682.photobucket.com/albums/vv190/doublenguyennguyen/brownred_1_zpsu5sfcx1r.jpg"> </td> <td class="framebod-museum" align="center"> <center> <table background="http://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/brownred_1.jpg"> <tbody> <tr> <td style="background-color:transparent;"> <div style="margin-left:2%;margin-right:2%;"> <table style="text-align: left;" align="center" cellpadding="0" cellspacing="0" width="90%"> <tbody> <tr> <td> <br> <br><br> <div style="border: 3px dotted peru;border-radius: 22px 22px 22px 22px;background: none repeat scroll 0% 0% tan;font-size: 20px;color: maroon;"> <br> <br><br> <p style="margin: 20pt 14pt 0pt;"> Hội nhập với thế giới <br><br> Hội nhập với thế giới cũng có nghĩa là cái gì hay của nhân loại thì mình bắt chước. Chẳng hạn môn túc cầu do người Anh nghĩ ra nhưng dân Ba Tây bắt chước và bắt chước hay quá cho nên nói tới túc cầu bây giờ, thế giới nghĩ tới Ba Tây chứ không nghĩ tới Anh Quốc. Vậy thì bắt chước điều hay không phải là điều tủi nhục hay xấu hổ. <br><br> <br> <br></p> </div> <br> <br> <br><br> </td> </tr> </tbody> </table> </div> </td> </tr> </tbody> </table> </center> </td><td background="https://i682.photobucket.com/albums/vv190/doublenguyennguyen/brownred_1_zpsd52mrhsg.jpg"> </td> </tr><tr> <td> <img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/brownred_1.jpg" border="0" height="23" width="23"> </td> <td style="" background="https://i682.photobucket.com/albums/vv190/doublenguyennguyen/brownred_1_zpsastrchzc.jpg"> </td> <td> <img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/brownred_1.jpg" border="0" height="23" width="23"> </td> </tr> </tbody> </table> </center>

 

<p align="center">

 

&nbsp;</p> <p align="center">&nbsp;</p> <table class="MsoNormalTable" style="border-width: medium;border-style: none;border-color: -moz-use-text-color;background: none repeat scroll 0% 0% transparent;width: 100%;border-collapse: collapse;" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="80%"> <tbody> <tr> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/56693b8b-8f63-4a4b-ade5-f46584a35a5e.jpg" height="23" border="0" width="23"></td> <td style="" bgcolor="green"></td> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/b3750f38-d119-44e6-9e29-944ade0b0f07.jpg" height="23" border="0" width="23"></td></tr> <tr> <td style="" bgcolor="green"></td> <td class="framebod-museum" align="center"><center> <table style="text-align: left;" align="center" border="0"><tbody><tr><td> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"><tbody><tr><td style=" background-color:lightgreen;"> <br><p style="margin: 12pt 14pt 0pt;"> <span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"><span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"><font class="Apple-style-span" face="&amp;#39;comic sans ms&amp;#39;"><font class="Apple-style-span" color="green"> Kiến trúc sư ngôi chùa rất am hiểu thẩm mỹ đạo Phật bởi chỉ có thể nói chùa là khang trang chứ không thể nói đồ sộ cao vút như ngọn giáo chọc thẳng lên trời như kiến trúc của nhà thờ Gia tô giáo. <br><br>Chùa ẩn mình dưới chân núi vắng vẻ hiu quạnh. Kiến trúc sư tạo ngôi chùa này hầu như chỉ dùng có hai màu: Màu đá xám hòa với thiên nhiên và màu nâu với sắc đỏ vừa phải. <br><br>Nói sắc đỏ vừa phải tức không làm cho màu trở nên rực rỡ vì chỉ cần tăng sắc đỏ lên chút là chuyển thành màu của đế vương.<br><br></font></font></span></span></p><br> </td></tr></tbody></table></td></tr></tbody></table></center> </td> <td style="" bgcolor="green"></td></tr> <tr> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/dadc5597-553a-40ca-a38d-c8329120f929.jpg" height="23" border="0" width="23"></td> <td style="" bgcolor="green"></td> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/114b7DqAf5L._SS36_.jpg" height="23" border="0" width="23"></td></tr></tbody></table>

 

<p align="center">&nbsp;</p> honey dew

 

<p align="center">&nbsp;</p> <table class="MsoNormalTable" style="border-width: medium;border-style: none;border-color: -moz-use-text-color;background: none repeat scroll 0% 0% transparent;width: 100%;border-collapse: collapse;" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="80%"> <tbody> <tr> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/56693b8b-8f63-4a4b-ade5-f46584a35a5e.jpg" height="23" border="0" width="23"></td> <td style="" bgcolor="green"></td> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/b3750f38-d119-44e6-9e29-944ade0b0f07.jpg" height="23" border="0" width="23"></td></tr> <tr> <td style="" bgcolor="green"></td> <td class="framebod-museum" align="center"><center> <table style="text-align: left;" align="center" border="0"><tbody><tr><td> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0"><tbody><tr><td style=" background-color:honeydew;"> <br><p style="margin: 12pt 14pt 0pt;"> <span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"><span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"><font class="Apple-style-span" face="&amp;#39;comic sans ms&amp;#39;"><font class="Apple-style-span" color="green"> Kiến trúc sư ngôi chùa rất am hiểu thẩm mỹ đạo Phật bởi chỉ có thể nói chùa là khang trang chứ không thể nói đồ sộ cao vút như ngọn giáo chọc thẳng lên trời như kiến trúc của nhà thờ Gia tô giáo. <br><br>Chùa ẩn mình dưới chân núi vắng vẻ hiu quạnh. Kiến trúc sư tạo ngôi chùa này hầu như chỉ dùng có hai màu: Màu đá xám hòa với thiên nhiên và màu nâu với sắc đỏ vừa phải. <br><br>Nói sắc đỏ vừa phải tức không làm cho màu trở nên rực rỡ vì chỉ cần tăng sắc đỏ lên chút là chuyển thành màu của đế vương.<br><br></font></font></span></span></p><br> </td></tr></tbody></table></td></tr></tbody></table></center> </td> <td style="" bgcolor="green"></td></tr> <tr> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/dadc5597-553a-40ca-a38d-c8329120f929.jpg" height="23" border="0" width="23"></td> <td style="" bgcolor="green"></td> <td><img src="https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/114b7DqAf5L._SS36_.jpg" height="23" border="0" width="23"></td></tr></tbody></table> <p align="center">&nbsp;</p>
#f0e1ff





Quotation Marks (" " ' ')


Direct Quotations

Quotation marks are used primarily in direct quotations. Put quotation marks around the exact words of the speaker.

Example:
1. Jimmy called, "Anyone for tennis?"
2. "I would rather play golf." replied Lee.


Note the punctuation for these direct quotations:
  • Use a comma before the direct quotation.

  • Use quotation marks around the speaker's exact words.

  • Use a capital letter for the first word of the direct quotation.

  • Use a period and a question mark inside the quotation marks.

3. "But, Linda," he said, "you and Cheryl have never ridden on the colosus."
4. "You go ahead and ride on it," she answered. "We'll stay here and watch you."


Note the punctuation for these split quotations:
  • In 3, the word you begins with a small letter because the words on either side of he said are the two parts of a single sentence.

  • In 4, there are two sentences. The first one begins with you and ends with she answered. Therefore, the W of We'll is capitalized as the first word of the second sentence.




 

[div style="border: 0px solid rgb(170, 170, 170);padding: 3px;overflow: auto;width: 500px;height: 175px;"]

 photo 2rnvlzd_zpsgor5e83j.jpg

 

9

 

    photo 2rnvlzd_zpsgor5e83j.jpg

Việt-Nam Quê Hương Tôi

Ước Mơ và Hoài Bão

Tôi rời Việt-Nam đã 20 năm nay, bỏ lại sau lưng một khung trời kỷ niệm. Gói hành trang của cuộc ra đi chỉ là những hình ảnh của một nước Việt Nam đau thương khốn khổ đầy hận thù pha lẫn với những hình ảnh thân yêu dịu dàng của một người mẹ hiền chịu nhiều hy sinh, của một người cha kham nhiều vất vả. Trong suốt cuộc hành trình dài nơi đất người, tôi vẫn giữ mãi những hình ảnh thân yêu nầy như vẫn hy vọng có ngày nào đó sẽ có dịp tiếp nối một cuộc vui đã tạm gián đoạn. <o:p></o:p>

<o:p></o:p>


Năm vừa rồi tôi quyết định trở về thăm nơi chôn nhau cắt rún, như quyết định tìm lại dấu vết của cuộc sống êm đềm xưa mà người khác đã cướp đoạt. Ðối với tôi đó chỉ là chuyện "trở về mái nhà xưa", nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên, chuyện đó tôi nghĩ là quá dễ dàng vì tôi vẫn còn giữ kín những hình ảnh năm xưa trong tận đáy lòng. <o:p></o:p>

 

 


Việt-Nam Quê Hương Tôi

Ước Mơ và Hoài Bão

Tôi rời Việt-Nam đã 20 năm nay, bỏ lại sau lưng một khung trời kỷ niệm. Gói hành trang của cuộc ra đi chỉ là những hình ảnh của một nước Việt Nam đau thương khốn khổ đầy hận thù pha lẫn với những hình ảnh thân yêu dịu dàng của một người mẹ hiền chịu nhiều hy sinh, của một người cha kham nhiều vất vả. Trong suốt cuộc hành trình dài nơi đất người, tôi vẫn giữ mãi những hình ảnh thân yêu nầy như vẫn hy vọng có ngày nào đó sẽ có dịp tiếp nối một cuộc vui đã tạm gián đoạn. <o:p></o:p>

<o:p></o:p>


Năm vừa rồi tôi quyết định trở về thăm nơi chôn nhau cắt rún, như quyết định tìm lại dấu vết của cuộc sống êm đềm xưa mà người khác đã cướp đoạt. Ðối với tôi đó chỉ là chuyện "trở về mái nhà xưa", nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên, chuyện đó tôi nghĩ là quá dễ dàng vì tôi vẫn còn giữ kín những hình ảnh năm xưa trong tận đáy lòng. <o:p></o:p>

 photo 2rnvlzd_zpsgor5e83j.jpg

 

99999999999999999999

 


Võ tướng đề đao
  định
    thái
      bình.

Văn quan cầm bút
   an
    thiên
      hạ

 

Những Chiếc Bồn Tắm

 

#f0e1ff

 


Những Chiếc Bồn Tắm 2011 Độc Đáo

    Bên cạnh những chức năng thông thường, chiếc bồn tắm còn là nơi thể hiện những sáng tạo của các nhà thiết kế nội thất. Cùng chiêm ngưỡng các mẫu bồn tắm độc đáo năm 2011.


Hình dáng của chiếc bồn tắm này gợi liên tưởng đến hình ảnh của thác nước trắng xóa trong một thiên đường nhiệt đới, làm dịu bớt cái nóng bức đến oi ả của mùa hè. (Ảnh: www.home-designing.com)
Hình dáng của chiếc bồn tắm này gợi tưởng đến hình ảnh của thác nước trắng xóa trong một thiên đường nhiệt đới, làm dịu bớt cái nóng bức đến oi ả của mùa hè.


Được thiết kế bởi Chin Chia Lim, Chiếc bồn tắm WaterFall này mang đến những trải nghiệm vô cùng thú vị hệt như trong một hồ bơi tại gia.
Được thiết kế bởi Chin Chia Lim, chiếc bồn tắm WaterFall này mang đến những trải nghiệm thú vị hệt như trong một hồ bơi tại gia.


Một chiếc bồn độc đáo dành cho những người yêu thích công nghệ hiện đại, thiết kế dựa trên cảm hứng đến từ nước Nhật (Ảnh: www.home-designing.com)
Một chiếc bồn độc đáo dành cho những người yêu thích công nghệ hiện đại, thiết kế dựa trên cảm hứng đến từ nước Nhật.


Thay vì là một phụ nữ già nua với một đôi giày cũ kĩ, bạn sẽ là một người phụ nữ đẳng cấp đang tắm mình trong một chiếc giày mosaic bằng thủy tinh. Thiết kế bởi SICIS (Ảnh: www.home-designing.com)
Thay vì là một phụ nữ già nua với một đôi giày cũ, bạn sẽ là một người phụ nữ đẳng cấp đang tắm mình trong một chiếc giày mosaic bằng thủy tinh. Thiết kế bởi SICIS.


Thiết kế bởi ZAFF Design, chiếc bồn tắm này vượt qua mọi quan niệm về thiết kế bồn tắm thông thường. Bạn sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy chiếc bồn tắm này? (Ảnh: www.home-designing.com)
Thiết kế bởi ZAFF Design, chiếc bồn tắm này vượt qua mọi quan niệm về thiết kế bồn tắm thông thường với những đường cong lượn thú vị.


Có lẽ chiếc bồn tắm này dành cho những người yêu thích đại dương. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy giống như mình đang lặn sâu dưới đáy biển bao la (Ảnh: www.home-designing.com)
Chiếc bồn tắm này dành cho những người yêu thích đại dương. Bạn sẽ cảm thấy giống như mình đang lặn sâu dưới đáy biển bao la.


Sử dụng chiếc bồn tắm Utuwa này, bạn sẽ có cảm giác giống như đang ở trong một tiệm spa vậy (Ảnhn: www.home-designing.com)
Sử dụng chiếc bồn tắm Utuwa này, bạn sẽ có cảm giác giống như đang ở trong một tiệm spa.


Dành cho những người yêu thích đọc sách, chiếc bồn tắm thiết kế theo phong cách Italia này sẽ hoàn toàn làm vừa ý những người ham hiểu biết (Ảnh: www.home-designing.com)
Dành cho những người yêu thích đọc sách, chiếc bồn tắm thiết kế theo phong cách Italy này sẽ làm vừa ý những người ham hiểu biết.



Một chiếc bồn tắm dành cho cả gia đình. Còn gì thú vị hơn khi bạn và mọi người được cùng đắm mình trong những làn nước mát, vui đùa và tận hưởng cuộc sống? (Ảnh: www.home-designing.com)
Một chiếc bồn tắm dành cho cả gia đình. Bạn và mọi người được cùng đắm mình trong những làn nước mát, vui đùa và tận hưởng cuộc sống. Ảnh: Home -designing.com.

Nguồn:http://www.haingoaiphiemdam.com/news/index.php?mod=article&cat=WorldNew&article=880

[span style="background-color: rgb(255, 255, 204);"] #ffe8ff

 


Những Chiếc Bồn Tắm 2011 Độc Đáo

    Bên cạnh những chức năng thông thường, chiếc bồn tắm còn là nơi thể hiện những sáng tạo của các nhà thiết kế nội thất. Cùng chiêm ngưỡng các mẫu bồn tắm độc đáo năm 2011.


Hình dáng của chiếc bồn tắm này gợi liên tưởng đến hình ảnh của thác nước trắng xóa trong một thiên đường nhiệt đới, làm dịu bớt cái nóng bức đến oi ả của mùa hè. (Ảnh: www.home-designing.com)
Hình dáng của chiếc bồn tắm này gợi tưởng đến hình ảnh của thác nước trắng xóa trong một thiên đường nhiệt đới, làm dịu bớt cái nóng bức đến oi ả của mùa hè.


Được thiết kế bởi Chin Chia Lim, Chiếc bồn tắm WaterFall này mang đến những trải nghiệm vô cùng thú vị hệt như trong một hồ bơi tại gia.
Được thiết kế bởi Chin Chia Lim, chiếc bồn tắm WaterFall này mang đến những trải nghiệm thú vị hệt như trong một hồ bơi tại gia.


Một chiếc bồn độc đáo dành cho những người yêu thích công nghệ hiện đại, thiết kế dựa trên cảm hứng đến từ nước Nhật (Ảnh: www.home-designing.com)
Một chiếc bồn độc đáo dành cho những người yêu thích công nghệ hiện đại, thiết kế dựa trên cảm hứng đến từ nước Nhật.


Thay vì là một phụ nữ già nua với một đôi giày cũ kĩ, bạn sẽ là một người phụ nữ đẳng cấp đang tắm mình trong một chiếc giày mosaic bằng thủy tinh. Thiết kế bởi SICIS (Ảnh: www.home-designing.com)
Thay vì là một phụ nữ già nua với một đôi giày cũ, bạn sẽ là một người phụ nữ đẳng cấp đang tắm mình trong một chiếc giày mosaic bằng thủy tinh. Thiết kế bởi SICIS.


Thiết kế bởi ZAFF Design, chiếc bồn tắm này vượt qua mọi quan niệm về thiết kế bồn tắm thông thường. Bạn sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy chiếc bồn tắm này? (Ảnh: www.home-designing.com)
Thiết kế bởi ZAFF Design, chiếc bồn tắm này vượt qua mọi quan niệm về thiết kế bồn tắm thông thường với những đường cong lượn thú vị.


 

===========================

 

Có lẽ chiếc bồn tắm này dành cho những người yêu thích đại dương. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy giống như mình đang lặn sâu dưới đáy biển bao la (Ảnh: www.home-designing.com)
Chiếc bồn tắm này dành cho những người yêu thích đại dương. Bạn sẽ cảm thấy giống như mình đang lặn sâu dưới đáy biển bao la.


Sử dụng chiếc bồn tắm Utuwa này, bạn sẽ có cảm giác giống như đang ở trong một tiệm spa vậy (Ảnhn: www.home-designing.com)
Sử dụng chiếc bồn tắm Utuwa này, bạn sẽ có cảm giác giống như đang ở trong một tiệm spa.


Dành cho những người yêu thích đọc sách, chiếc bồn tắm thiết kế theo phong cách Italia này sẽ hoàn toàn làm vừa ý những người ham hiểu biết (Ảnh: www.home-designing.com)
Dành cho những người yêu thích đọc sách, chiếc bồn tắm thiết kế theo phong cách Italy này sẽ làm vừa ý những người ham hiểu biết.



Một chiếc bồn tắm dành cho cả gia đình. Còn gì thú vị hơn khi bạn và mọi người được cùng đắm mình trong những làn nước mát, vui đùa và tận hưởng cuộc sống? (Ảnh: www.home-designing.com)
Một chiếc bồn tắm dành cho cả gia đình. Bạn và mọi người được cùng đắm mình trong những làn nước mát, vui đùa và tận hưởng cuộc sống. Ảnh: Home -designing.com.

Nguồn:http://www.haingoaiphiemdam.com/news/index.php?mod=article&cat=WorldNew&article=880

 

================

 


1
 photo mahogany_frame_top_left_zpsdhpwo139.gif

 

2
 photo mahogany_frame_bottom_left_zpszc7a5vun.gif

 

3
 photo mahogany_frame_bottom_right_zpsp3wr4qqy.gif

 

4
 photo mahogany_frame_bottom_zpsqnqejgbs.gif

 

5
 photo mahogany_frame_left_zpsosqdgy1w.gif

 

6
 photo mahogany_frame_right_zps4bcwufm5.gif

 

7
 photo yellow_frame_top_zpslwzmy07z.gif

 

8
 photo ARVN Vietnamese Green beret_zpsrnzvqdjd.jpg

 

9
 photo Is Your Mom absence_zpsxg5lqqce.jpg

 

10
 photo ow_hill22_04_zps4wzbesxi.jpg

 

11
 photo Sinh Viecircn S Quan agrave Lt_zpsnzcbowsv.jpg

 

*12
 photo than chuy_zpsukwnadus.jpg

 

13
 photo Trung Uacutey Trn Hunh Mai ti Bigravenh Dng nm 1972_zpsmnqam6he.jpg

 

14
 photo tri_zpsp0a0dlcv.jpg

 

15
 photo saigon-ngay-xua-large_zpskppuhw24.jpg

 

16
 photo Kim Tuyn_zpsuup4zqtp.jpg

 

17
 photo Trng Votilde B Quc Gia agrave Lt VNCH_zpsrxc3ttsd.jpg

 

18
 photo 4048710865_fca974038e_o_zpsijbswhhk.jpg

 

19
 photo Gen Lacircm Quang Thi_zpscvxoohxa.jpg

 

00000000

 

20
 photo 30071954-Photograph-of-artist-s-coarse-grain-Pale-Lime-Green-striped-pastel--Stock-Photo_zpsihsbwkiy.jpg

 

21
 photo 3515607_zpseryukrhq.jpg

 

22
 photo autumn_leaves_PNG3582_zpsk1hvz0xy.png

 

23
 photo autumn_leaves_PNG3571_zpsy8pn1dav.png

 

24
 photo brown_zpscjrsdqgh.jpg

 

25
 photo angle_zpsaej0rkuj.png

 

26
 photo angle 1_zps8kp8kwot.png  photo angle-left-512_zps6jeoujx3.png

 

27
 photo Pho tng liacutenh_zpszwdiyudi.jpg

 

28
 photo camo bdq_zpsyazleplp.jpg

 

29
 photo grid_background_light_surface_texture_50732_750x1334_zpstxffuvgs.jpg

 

30
 photo gray_surface_metal_bands_9716_750x1334_zpsoagf7wtq.jpg

 

31
 photo fiber_dark_line_texture_55216_750x1334_zpsmvwicgpy.jpg

 

32
 photo carbon-7_zps22qswtde.jpg 33
 photo z-avnch-panam707_zpsfasiibir.jpg

 

34
 photo avn7_zpsffwp0wdk.jpg

 

35
 photo z-avnch-bag_zps2llzfawc.jpg

 

36
 photo 0_zpsplhoddnd.jpg

 

3777
 photo 2e2a4c2bf6dbacd651f1394ace5168d3_zps83s3ylux.jpg

 

37
 photo 3 1_zps3hykeyqv.jpg

 

38
 photo 30 6ha1n_zps53huossz.jpg

 

**
39
 photo 333lp8o_zpsqe08fnb4.jpg

 

40
 photo 2612cb8a-003f-4b65-9bac-4bd9177913cf_zpsgwzuhp7n.jpg

 

41
 photo 735215-1400x1050-DesktopNexus.com_zps8vnzdywc.jpg

 

42
 photo ARVN Vietnamese Green beret_zpsrnzvqdjd.jpg

 

43
 photo cemetery34_zpskjwa5vvf.jpg 44
 photo EFtrrPDeNYl_TRI-AcircN-QUAcircN-LC-VNCH1_zpsxyibqym3.jpg

 

45

 

46

 

47

 

48

 

49

 

50


 

51


 

52


53
Địa Phương Quân


camo marine


camo marine


TQLC cir


Dương N A





tượng thương tiêc














.....








Hai người lính




pháo binh


chiến thuyền
















>>>>>>>>>>>>


96


97


98


99


Hình




































































































Tên Việt cộng Ca Văn Thỉnh đã thu xếp để đưa Trúc Hồ tức Trương Anh Hùng qua Thái Lan bằng đường bộ năm 1981 để "cấy" Trúc Hồ có cơ hội sau này len lõi vào cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại. Ca Văn Thỉnh là cha của thằng Việt cộng văn công Ca Lê Thuần.

Năm 2013 bản nhạc "Đáp Lời Sông Núi" đã và đang được "nhà nước Việt cộng" hoan nghinh và phổ biến rộng rãi, được coi như là một bản nhạc của ban tuyên huấn cộng sản chủ trương, được dùng để Chào Mừng Ngày Quốc Khánh 2/9/1945 - 2/9/2013.

 

"Saigonaises" Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn

Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ chí Minh. 1 Vì sao? Tro...