Không quân Việt Nam Cộng hòa |
|---|
 Phù hiệu |
| Hoạt động | 1951-1975 |
|---|
| Quốc gia | Việt Nam Cộng hòa |
|---|
| Phục vụ | Quân lực VNCH |
|---|
| Quân chủng | Không Quân |
|---|
| Phân loại | Yểm trợ và Tác chiến |
|---|
| Quy mô | -63.000 nhân sự (1975) -2.075 phi cơ (1975) |
|---|
| Bộ phận của | Bộ Tổng Tham mưu |
|---|
| Bộ chỉ huy | Tân Sơn Nhất, Sài Gòn |
|---|
| Tên khác | Không Lực |
|---|
| Khẩu hiệu | -Tổ quốc -Không gian |
|---|
| Linh vật | Con Rồng |
|---|
| Lễ kỷ niệm | Ngày 1 tháng 7 |
|---|
| Tham chiến | Chiến tranh Việt Nam |
|---|
| Các tư lệnh |
|---|
Chỉ huy nổi tiếng | -Nguyễn Khánh -Trần Văn Hổ -Nguyễn Xuân Vinh -Huỳnh Hữu Hiền -Nguyễn Cao Kỳ -Trần Văn Minh |
|---|
| Huy hiệu |
|---|
| Dấu tròn |  |
|---|
| Phù hiệu đuôi |  |
|---|
| Phi cơ sử dụng |
|---|
| Cường kích | MD 315 Flamant, T-28 A-1, A-37 AC-47, AC-119G/K |
|---|
| Máy bay ném bom | B-57 Canberra |
|---|
Tác chiến điện tử | EC-47 |
|---|
| Tiêm kích | F8F Bearcat, F-5A/B/C/E |
|---|
| Tuần tra | Republic RC-3 Seabee |
|---|
| Do thám | RF-5A, MS 500 Criquet O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster U-6,
U-17 |
|---|
| Huấn luyện | Pazmany PL-2, T-6, T-28 T-41, T-37, H-13 |
|---|
| Vận tải | Dassault MD 315 Flamant, C-45 Aero Commander, C-47 DC-6, C-7 Caribou C-119, C-123 C-130, Alouette II, Alouette III H-19, UH-1 H-34, CH-47 |
|---|
Không Lực Việt Nam Cộng hòa (Tiếng Anh: Vietnam Air Force, VNAF) là lực lượng không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tiền thân là những phi cơ ném bom nhỏ và cũ do quân đội Liên hiệp Pháp chuyển giao lại cho Quân đội Quốc gia Việt Nam sau khi rút khỏi Việt Nam. Sau đó dần được bổ sung cải tiến bằng những phi cơ tối tân, hiện đại do Hoa Kỳ cung cấp, trở nên ngày càng mạnh mẽ về số lượng cùng hỏa lực trên không. Không quân đã đóng vai trò quan trọng việc yểm trợ Bộ binh VNCH trên mặt đất.
Không lực VNCH được Hoa Kỳ cung cấp số lượng máy bay rất lớn, được xếp hạng sức mạnh thứ 4 trên Thế giới và thứ 2 tại châu Á (chỉ đứng sau Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc). Lúc cao điểm Không lực VNCH có tới trên 2.000 máy bay và trực thăng các loại, tức là còn nhiều máy bay hơn không quân các cường quốc đương thời như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản... Tuy nhiên khi so sánh với Không quân Hoa Kỳ thì Không lực VNCH chỉ có Không quân chiến thuật để hỗ trợ tiền tuyến mà không có Không quân chiến lược (cụ thể là pháo đài bay B-52). Đồng thời lực lượng này bị Hoa Kỳ kiểm soát và khống chế việc chỉ huy các chiến dịch, khiến phi cơ chỉ có thể hoạt động giới hạn tại Nam Việt nam, khó có thể thực hiện những phi vụ oanh tạc sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam cũng như 2 nước láng giềng là Lào và Campuchia. Sau khi để mất các đảo trong Hải chiến Hoàng Sa về phía Trung Quốc, Nguyễn Văn Thiệu đã lên kế hoạch huy động không lực VNCH oanh tạc Hoàng Sa để chiếm lại nhưng sau đó bị hủy bỏ do phía Mỹ ngăn chặn. Trong Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, cùng với sự sụp đổ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lực lượng không quân cũng chính thức giải thể.
Lược sử hình thành và phát triển[sửa | ]
Lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa được hình thành từ một số phi công người Việt được tuyển chọn bay cùng với các phi công Pháp với tư cách là sĩ quan của quân đội Pháp. Khi Quốc gia Việt Nam, được thành lập, các sĩ quan người Việt này được chuyển sang cơ cấu Quân đội Quốc gia.
Bản thân Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Hinh cũng xuất thân là một sĩ quan phi công, vì vậy, ông rất chú trọng việc xây dựng Lực lượng Không quân. Tháng 6 năm 1951, một cơ quan phụ trách về ngành Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập với tên gọi là Ban Không quân, ban đầu chỉ làm nhiệm vụ phụ trách Phi đội Liên Lạc. Trên thực tế, các phi công người Việt chỉ làm nhiệm vụ bay cùng với các phi công Pháp trong các phi vụ. Các chức vụ chỉ huy và Phi công chính đều là sĩ quan Pháp. Ngay cả chức vụ Trưởng ban Không quân, kiêm Phụ tá Không quân cho Tổng tham mưu trưởng cũng là sĩ quan Pháp.
Tháng 4 năm 1952, thành lập Trung tâm Huấn luyện Không quân tại Nha Trang nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp đảm nhiệm Chỉ huy trưởng và trực tiếp huấn luyện. Năm 1953, thành lập thêm 2 phi đội Quan Sát và Trợ Chiến tại Tân Sơn Nhứt và Nha Trang. Năm 1954, Ban Không quân được đổi thành Phòng Không quân.
Năm 1955, Không quân Pháp bàn giao lại cho Không quân Quốc gia Việt Nam khoảng 25 vận tải cơ C-47, 2 Phi đoàn quan sát L-19 và 25 Khu trục cơ cánh quạt F8F Bearcat lỗi thời[2]. Tháng 7 năm 1955, lần đầu tiên một người Việt được giữ chức vụ Phụ tá Không quân là Trung tá Nguyễn Khánh. Giai đoạn đầu ngành Không quân chỉ được quy định với quân số 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ.
Đệ Nhất Cộng Hòa[ | ]
Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa. Lực lượng Không quân Quốc gia Việt Nam cũng được đổi tên thành Không quân Việt Nam Cộng hòa. Thiếu tá Trần Văn Hổ, đương kim Phụ tá Không quân, được thăng Trung tá, và trở thành Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Không quân Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1957, theo chương trình hợp tác viện trợ, một phái đoàn Không quân Hoa Kỳ sang nghiên cứu tình hình để soạn thảo kế hoạch huấn luyện cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan được tuyển chọn sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Các phi trường Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng được xây dựng mở rộng. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang cũng được xây dựng quy mô hơn, nhằm đào tạo tại chỗ các khóa hoa tiêu và quan sát viên, và các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị.
Tháng 9 năm 1959, một Phi đội đầu tiên gồm 6 phi cơ Skyraider (Thiên tướng) được Hoa Kỳ chuyển giao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa. Sau đó trong vòng 1 năm có thêm 25 chiếc Skyraider khác được bàn giao tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt. Năm 1960, Phi đoàn 1 Khu trục cơ được thành lập và bắt đầu hoạt động từ Bến Hải đến Cà Mau để yểm trợ cho Bộ binh Việt Nam Cộng hòa[3]
Năm 1961, chương trình trợ giúp của Hoa Kỳ có tên Farm Gate đã đưa các loại phi cơ cánh quạt huấn luyện T28, Oanh tạc cơ hạng nhẹ B26 và vận tải cơ C.47 cùng khoảng 124 sĩ quan và 228 quân nhân Hoa Kỳ sang giúp huấn luyện. Các hệ thống hướng dẫn và kiểm soát không lưu được thiết lập tại các phi trường Tân Sơn Nhứt, Đà Nẵng và Pleiku[4]. Liên đoàn 1 Không vận đầu tiên được thành lập với Trung tá Nguyễn Cao Kỳ được chỉ định làm Liên đoàn trưởng. Hoa Kỳ cũng trao cho Không quân Việt Nam Cộng hòa thêm 16 Vận tải cơ hạng trung C.123 trong tháng 12 năm 1961.
Ngày 26 tháng 2 năm 1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên đường bay huấn luyện đã đột ngột bay trở lại dội bom mưu toan giết chết Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Ngay lập tức Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh đình chỉ vô hạn định các phi vụ chiến đấu[5]. Cũng vì lý do này mà đương kim Tư lệnh Không quân là Đại tá Nguyễn Xuân Vinh bị thất sủng, phải xin giải ngũ với lý do sang Hoa Kỳ học ngành Tiến sĩ Không gian.
Năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi vùng Chiến thuật: Không đoàn 41 (căn cứ ở Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Hòa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cần Thơ)[6]
Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đang cố trèo lên một chiếc trực thăng UH-1 để di tản trong trận An Lộc, 1972
Sau cuộc "Chỉnh lý" lên nắm quyền, tướng Nguyễn Khánh thực hiện một số cải tổ trong Quân đội. Ngoài việc đặt ra thêm cấp bậc Chuẩn tướng, ông còn cho thay đổi tên gọi "Quân đội Việt Nam Cộng hòa" thành "Quân lực Việt Nam Cộng hòa". Danh xưng Không Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng được sử dụng chính thức từ lúc đó.
Năm 1965, Không lực Việt Nam Cộng hòa có thêm các Phi đoàn Khu trục cơ A-37 Dragonfly và sau đó là các Phi đoàn Không vận cánh quạt loại lớn C.130 Hercules và trực thăng CH.47 Chinook.
Ngày 3 tháng 2 năm 1965, một Phi đoàn gồm 24 chiếc A-1H Skyraider do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy cất cánh từ Căn cứ Không quân Đà Nẵng và tham gia vào Chiến dịch Mũi tên lửa (Flaming Dart) do Hoa Kỳ vạch định, tấn công các địa điểm ở phía bắc Vĩ tuyến 17[7]
Ngày 11 tháng 2 năm 1965, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh phó Không lực Việt Nam Cộng hòa, làm Phi đoàn trưởng 28 chiếc Skyraider của Việt Nam Cộng hòa cùng với 28 chiếc F100 của Không quân Hoa Kỳ mở cuộc tấn công thứ hai vào lãnh thổ phía bắc Vĩ tuyến 17. Trong đợt này phi công Phạm Phú Quốc bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam[8]
Năm 1967, Không Lực Việt Nam Cộng hòa có thêm 1 Phi đoàn Khu trục trang bị phản lực cơ F-5. Số hiệu của các đơn vị cấp Phi đoàn được cải tổ xếp thành 3 số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của đơn vị cấp phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của phi đoàn đó: số 1 là liên lạc, số 2 là trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là máy bay cường kích, và số 9 là huấn luyện.[6]
Năm 1970, với đà phát triển nhanh của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, các Không đoàn Chiến thuật phát triển thành 4 Sư đoàn không quân[9], tác chiến hỗ trợ cho 4 Vùng Chiến thuật. Năm 1971, Sư đoàn 5 Không quân được thành lập và trở thành Lực lượng Không quân Trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1972, thành lập thêm tại Quân khu 2 Sư đoàn 6 chịu trách nhiệm vùng trời chiến trường Cao nguyên Trung phần.
Năm 1975, Không lực Việt Nam Cộng hòa có 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 Phi đoàn Khu trục cơ với khoảng 550 phi cơ A-1H Skyraider, A-37 Dragonfly, và F-5, 23 Phi đoàn Trực thăng với khoảng 1.000 trực thăng UH-1 Iroquois và CH-47 Chinook, 8 Phi đoàn quan sát với khoảng 200 phi cơ O-1 Bird Dog, O-2 Skymaster, và U-17), 1 Sư đoàn Vận tải (9 Phi đoàn vận tải với khoảng 150 phi cơ C-7 Caribou, C-47 Skytrain, C-119 Flying Boxcar, và C-130 Hercules), 1 Không đoàn Tân trang Chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long (attack squadron) với các phi cơ Fairchild AC-119, Lockheed AC-130. Ngoài ra còn có các Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát, và Biệt đoàn Đặc vụ 314.
Tổ chức Không lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]
- Quân số vào lúc cao điểm là trên 60.000 quân nhân với hơn 2.000 phi cơ các loại.[10]
| Stt
|
Đơn vị[11]
|
Anh ngữ
|
Chú thích
|
| 1
|
Bộ Tư lệnh
|
Air Command
|
Đặt tại Tân Sơn Nhất, Sài Gòn
|
| 2
|
Sư đoàn
|
Air Division
|
Từ 2 Không đoàn trở lên
|
| 3
|
Không đoàn
|
Wing
|
Từ 2 Liên đoàn trở lên
|
| 4
|
Liên đoàn
|
Group
|
Từ 2 Phi đoàn trở lên
|
| 5
|
Phi đoàn
|
Squadron
|
Gồm nhiều Phi đội hay Phi tuần
|
| 6
|
Phi đội
|
Flight
|
Từ 4 đến 6 Phi cơ
|
| 7
|
Phi tuần
|
Section (Detail)
|
Từ 2 đến 3 Phi cơ
|
Sư đoàn, Không đoàn và Phi đoàn[sửa | sửa mã nguồn]
Số hiệu của các Phi đoàn gồm có 3 chữ số. Theo đó, chữ số đầu trong 3 chữ số của phi đoàn được dùng để chỉ công dụng của Phi đoàn đó: số 1 là Phi đoàn Liên lạc, số 2 là Phi đoàn Trực thăng, số 3 là Phi đoàn Đặc vụ, số 4 là Phi đoàn Vận tải, số 5 là Phi đoàn Khu trục, số 7 là Phi đoàn Quan sát, số 8 là Phi đoàn Máy bay cường kích và số 9 là Phi đoàn Huấn luyện.
BTL Không quân và các đơn vị trực thuộc tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]
| Stt
|
Họ và tên
|
Cấp bậc
|
Tại chức
|
Chú thích
|
| 1
|
Nguyễn Khánh
|
Trung tá[22]
|
1955
|
Phụ tá cho Tổng Tham mưu trưởng, Phụ trách Không quân
|
| 2
|
Trần Văn Hổ[23] Võ bị Huế K2
|
Thiếu tá
|
1955-1957
|
Tư lệnh đầu tiên. Được thăng vượt cấp từ Trung úy lên Thiếu tá, Trung tá (1955) và Đại tá (1956)
|
| 3
|
Nguyễn Xuân Vinh[24] Võ khoa Nam Định Võ bị KQ Pháp K1
|
Trung tá
|
1957-1962
|
Thăng cấp Đại tá (1961). Thất sủng sau Vụ đánh bom Dinh Độc Lập 1962. Xin giải ngũ sang Hoa Kỳ du học, về sau là Tiến sĩ Vật lý phục vụ trong ngành Khoa học Không gian của Hoa Kỳ.
|
| 4
|
Huỳnh Hữu Hiền[25] Võ khoa Nam Định
|
nt
|
1962-1963
|
Thăng cấp Đại tá (1963). Năm 1964 giải ngũ chuyển sang làm phi công Hàng không Dân dụng.
|
| 5
|
Đỗ Khắc Mai Võ khoa Nam Định K1
|
Đại tá
|
1963
|
Được thăng vượt cấp từ Thiếu tá lên Đại tá (1963)
|
| 6
|
Nguyễn Cao Kỳ Võ khoa Nam Định Marrakeck Bắc Phi
|
nt
|
1963-1967
|
Tháng 12/1963, Quyền Tư lệnh Không quân đến tháng 3/1964 chính thức Tư lệnh, tháng 7/1964 kiêm Chỉ huy trưởng Không đoàn 83 Đặc nhiệm (tức Biệt đoàn 83 Thần Phong). Năm 1965 giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng) nhưng vẫn kiêm Tư lệnh Không quân đến 1967.
|
| 7
|
Trần Văn Minh[26]
|
nt
|
1967-1975
|
|
| 8
|
Nguyễn Hữu Tần
|
Chuẩn tướng
|
1975
|
Tư lệnh Sư đoàn 4 Không quân đồng thời là quyền Tư lệnh Không quân sau cùng (Ngày 29/4/1975)
|
Tướng lãnh xuất thân từ Không quân VNCH[sửa | sửa mã nguồn]
| Stt
|
Họ và tên
|
Cấp bậc
|
Năm phong cấp
|
Quá trình Thăng cấp
|
Chú thích
|
| 1
|
Trần Văn Minh
|
Trung tướng
|
1968
|
Thiếu tá (1958) Trung tá (1960) Đại tá (1965) Chuẩn tướng (1967) Thiếu tướng (1968)
|
Chỉ huy phó căn cứ KQ Đà Nẵng Chỉ huy trưởng Không đoàn 62 Tư lệnh phó Không quân Tư lệnh Không quân Tư lệnh Không quân
|
| 2
|
Nguyễn Cao Kỳ Võ khoa Nam Định
|
Thiếu tướng
|
1964
|
Thiếu tá (1960) Trung tá (1962) Đại tá (1963) Chuẩn tướng (1964)
|
Chỉ huy trưởng Liên đoàn Vận tải Chỉ huy trưởng Liên đoàn Vận tải Tư lệnh KQ Tư lệnh KQ
|
| 3
|
Nguyễn Ngọc Loan V.khoa Thủ Đức K1
|
nt
|
1968
|
Thiếu tá (1959) Trung tá (1963) Đại tá (1965) Chuẩn tướng (1966)
|
Phụ tá Tham mưu trưởng KQ Tư lệnh phó/Tham mưu trưởng KQ Giám đốc Nha ANQĐ[27] Tổng Giám đốc CSQG[28]
|
| 4
|
Võ Xuân Lành
|
nt
|
1969
|
Thiếu tá (1964) Trung tá (1965) Đại tá (1967) Chuẩn tướng (1969)
|
Chỉ huy trưởng Phi đoàn 514, Biên Hòa Chỉ huy trưởng TTHL KQ[29] Nha Trang Tư lệnh phó Không quân Tư lệnh phó Không quân
|
| 5
|
Nguyễn Huy Ánh Võ bị KQ Pháp
|
nt
|
1972 Truy thăng
|
Thiếu tá (1963) Trung tá (1965) Đại tá (1970) Chuẩn tướng (1971)
|
Chỉ huy Phi đoàn 211 Chỉ huy trưởng Không đoàn 74 Tư lệnh Sư đoàn 4 KQ Tư lệnh Sư đoàn 4 KQ
|
| 6
|
Lưu Kim Cương Võ bị KQ Pháp
|
Chuẩn tướng
|
1968 Truy thăng
|
Thiếu tá (1964) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
|
Chỉ huy trưởng Không đoàn 74 Chỉ huy trưởng Không đoàn 33 Chỉ huy trưởng Yếu khu Tân Sơn Nhất
|
| 7
|
Võ Dinh
|
nt
|
1972
|
Thiếu tá (1955) Trung tá (1959) Đại tá (1967)
|
Chỉ huy Căn cứ KQ số 1 Nha Trang Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh KQ Tham mưu phó tại Bộ Tư lệnh KQ
|
| 8
|
Đặng Đình Linh
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1962) Trung tá (1965) Đại tá (1970)
|
Chỉ huy phó Căn cứ Tân Sơn Nhứt Trưởng khối Không cụ tại Bộ Tư lệnh KQ Tham mưu phó Tiếp vận Không quân
|
| 9
|
Nguyễn Văn Lượng
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1963) Trung tá (1967) Đại tá (1970)
|
Liên đoàn trưởng Khoá sinh Phụ tá Chỉ huy trưởng TTHL KQ Tư lệnh Sư đoàn 2 KQ
|
| 10
|
Nguyễn Ngọc Oánh
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1960) Trung tá (1962) Đại tá (1969)
|
Chỉ huy trưởng TTHL KQ Chỉ huy trưởng TTHL KQ Chỉ huy trưởng TTHL KQ
|
| 11
|
Phan Phụng Tiên
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1964) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
|
Tùng sự tại Bộ Tư lệnh KQ Chỉ huy trưởng Phi đoàn Vận tải Chỉ huy trưởng Yếu khu Tân Sơn Nhất
|
| 12
|
Huỳnh Bá Tính
|
nt
|
nt
|
Thiểu tá (1965) Trung tá (1968) Đại tá (1971)
|
Chỉ huy trưởng Phi đoàn Quan sát số 2 Tư lệnh phó Sư đoàn 3 KQ Tư lệnh Sư đoàn 3 KQ
|
| 13
|
Lê Trung Trực Võ bị KQ Pháp
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1957) Trung tá (1960) Đại tá (1964)
|
Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh KQ Chỉ huy trưởng Căn cứ Tân Sơn Nhất Tư lệnh phó KQ
|
| 14
|
Từ Văn Bê
|
nt
|
1974
|
Thiếu tá (1963) Trung tá (1966) Đại tá (1968)
|
Chỉ huy trưởng Không đoàn Kỹ thuật Chỉ huy trưởng Không đoàn Kỹ thuật Chỉ huy trưởng Kỹ thuật và Tiếp vận KQ
|
| 15
|
Nguyễn Đức Khánh
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1965) Trung tá (1965) Đại tá (1970)
|
Chỉ huy Phi đoàn Khu trục Tư lệnh Không đoàn 41 Chiến thuật Tư lệnh Sư đoàn 1 KQ
|
| 16
|
Phạm Ngọc Sang
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1957) Trung tá (1959) Đại tá (1969)
|
Phi công trưởng của Tổng thống Diệm Trưởng khối HL[30] trường Sĩ quan KQ Trưởng phòng Nghiên cứu Bộ Quốc phòng
|
| 17
|
Nguyễn Hữu Tần
|
nt
|
nt
|
Thiếu tá (1965) Trung tá (1968) Đại tá (1972)
|
Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Hành quân KQ Tham mưu phó tại Bộ Tư lệnh KQ Tư lệnh Sư đoàn 4 KQ
|
Phi cơ F.5C tại Căn cứ Không quân Biên Hòa năm 1971
Phi cơ 4400th CCTS T.28 đang bay trên bầu trời
Phi cơ quan sát O.1 thuộc Phi đoàn Liên lạc 112/Không đoàn 23 tại Căn cứ Không quân Biên Hòa 1971
Phi cơ A.1H thuộc Phi đoàn Khu trục cơ 520 tại Căn cứ Không quân Bình Thủy, Cần Thơ
Phi cơ Cessna U.17A tại Căn cứ Không quân Nha Trang
Phi cơ Hỏa long (thuật ngữ Không Lực Việt Nam Cộng hòa gọi Phi cơ cường kích)
- ^ Một sáng tác của Nhạc sĩ Văn Cao
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 374, Phạm Phong Dinh, Tủ sách Vinh Danh, tháng 6 năm 1998;
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 375;
- ^ Trước năm 1960, các phi công Pháp-Việt thường bay theo thói quen, do chưa có các thiết bị dẫn đường mặt đất cũng như do ít sử dụng thiết bị dẫn đường trên không.
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 378;
- ^ a ă Lịch sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Tổng hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa tại Úc châu;
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 382;
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 384;
- ^ Mỗi Sư đoàn Không quân mới thành lập gồm có 1 Không đoàn chiến thuật gốc.
- ^ Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong máu lửa, trang 19;
- ^ Đơn vị từ cao xuống thấp
- ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
- ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định
- ^ Đại tá Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1931 tại Hà Nội.
- ^ Đại tá Nguyễn Khắc Ngọc, sinh năm 1930 tại Nam Định.
- ^ Đại tá Vũ Văn Ước, sinh năm 1930 tại Hà Đông.
- ^ Đại tá Huỳnh Minh Quang, sinh năm 1925 tại Sài Gòn.
- ^ Đại tá Nguyễn Hữu Thôn, sinh năm 1931 tại Mỹ Tho.
- ^ Đại tá Cao Thông Minh, sinh năm 1930 tại Hưng Yên.
- ^ Đại tá Lê Minh Luân, sinh năm 1931 tại Hà Nội.
- ^ Đại tá Phạm Duy Thân, sinh năm 1932 tại Vinh, Nghệ An.
- ^ Cấp bậc khi nhậm chức
- ^ Đại tá Trần Văn Hổ, sinh năm 1928 tại Chợ Lớn, tên quốc tịch Pháp là Paul.
- ^ Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, sinh năm 1930 tại Yên Bái.
- ^ Đại tá Huỳnh Hữu Hiền sinh năm 1930.
- ^ Trong QLVNCH có hai Trung tướng cùng họ và tên, nên để phân biệt mỗi ông có một biệt danh đi kèm với tên: Minh Lục quân và Minh Không quân. Tướng Minh Lục quân sinh năm 1923, năm 1965 giữ chức vụ Tổng Tư lệnh Quân lực (Tổng Tham mưu trưởng), hơn tướng Minh Không quân 9 tuổi và được thăng cấp Trung tướng (1957) trước tướng Minh Không quân 11 năm
- ^ Giám đốc Nha An ninh Quân đội
- ^ Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia
- ^ Trung tâm Huấn luyện Không quân
- ^ Trưởng khối Huấn luyện
- Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
|
|---|
| | Đại đơn vị | |
|---|
| | Binh chủng | |
|---|
| | Quân trường | |
|---|
| | Biểu trưng | |
|---|
| | Sự kiện quan trọng |
|
|---|
|