Friday, June 19, 2020

I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975

 

Tiếng Việt: I và Y
- Trước và Sau 1975




Ngay sau ngày 30/4/75, tất cả thầy trò miền Nam đều ngạc nhiên trước một sự kiện và đa số lại thích thú với sự kiện này: sự kiện thay tất cả những chữ “y” bằng “i” nếu không gây đổi âm. Ví dụ “nước Mĩ, Hoa Kì, mĩ thuật, í kiến” và “li thủy tinh, quí vị, tí toáy”.
Ngày nay có một số người vẫn tưởng rằng hồi đó người ta cho thay tất cả “y” bằng “i” kể cả “Thúy” thành “Thúi”. Xin thưa ngay để mọi người rõ rằng cái lỗi thô thiển đó không thể có dù cho những người làm giáo dục ở bất cứ đâu trong bất kỳ thời nào có dốt đến đâu đi nữa. Nó vô lý. Người ta đã chỉ thay khi nào có thể thay mà thôi. Và người ta có cái lý của người ta.
Sau này kiểu “chơi” như thế đã không còn nữa và thậm chí bị sửa lại bằng một nghị định gì đó của bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam: Bộ này yêu cầu không được viết “qui” mà phải sửa thành “quy” và Hoàng Phê với Vũ Xuân Lương có đưa ra cải cách“quy tắc” sau:[1]
“Nhất loạt viết khuôn vần /-i/ bằng I (trừ tên riêng) trong các âm tiết H-, K-, L-, M-, T- (nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI, giống như viết BI, CHI, DI, v.v.; không nên viết HY, KY, LY, MY, TY, cũng như không ai viết BI thành BY, CHI thành CHY, v.v.)”
Nhưng uy tín của Hoàng Phê và Vũ Xuân Lương không biết đến đâu mà trên báo chí và sách vở trong nước vẫn thấy không tuân theo, mà vẫn viết “mỹ thuật”, “ký sự”, “lý tưởng”, “hy vọng”... tức là “y” vẫn tùy hứng xuất hiện [2].
Còn ở các trung tâm Việt Ngữ hải ngoại bây giờ, vẫn dùng theo lối cũ, dựa vào cuốn “Việt Nam Tự Điển” của hội “Khai Trí Tiến Đức” in năm 1931 ở Hà Nội và các hội nghị chính tả của Miền Nam những năm 1950 và 70, người ta lại kêu gọi sử dụng lại cái ý tưởng viết toàn bộ âm [i] bằng “i”.
Và ngày trước, học sinh trung học ở Sài Gòn học chính tả ra sao? Hãy xem quan điểm rất thoáng của nhà văn và nhà giáo Thế Uyên[3] khi ông dạy cho học sinh lớp 6:[4]

“Cách phân biệt I và Y
Hai nguyên âm này đã gây ra rất nhiều tranh luận trong mấy chục năm gần đây. Xét về phương diện chính tả, có ba trường hợp chính cần để ý:
* I và Y thay cho nhau được: quíquý, vịvỵ...
* I và Y thay cho nhau được, nhưng thói tục không chấp nhận: iêuyêu, iênyên.
* I và Y không thay nhau được vì làm thay đổi cách phát âm cùng nghĩa của chữ: tay (tay chân) và tai (tai mũi), hai (số hai) và hay (truyện hay)...
Trong khi chờ đợi cơ quan thẩm quyền công bố các quy tắc sử dụng hai nguyên âm này, về phương diện chính tả, ta cần nhớ rằng chỉ có thể bỏ qua trường hợp đầu mà thôi. Hai trường hợp sau, nếu dùng lầm, là kể như có lỗi.
Qui tắc hướng dẫn: ít khi I được dùng làm chữ cái đầu tiên của một chữ.”
Đã từng có quan điểm của một số nhà ngữ âm cho rằng “y” đóng vai trò “bán nguyên âm” chứ không phải “nguyên âm thuần túy”. Quan niệm này có được có thể vì những nhà ngữ âm đó thấy ở chữ Anh, Pháp gì đó, mẫu tự “y” thường là một bán âm: như “yes”, “you”, “yeux”, “yaourt”... bèn “nhập khẩu” vào tiếng Việt và kết luận chắc như đinh đóng cột: “y” là bán âm. Rồi họ không cho viết “ly kỳ” nữa vì trong đó không có nguyên âm.
Họ quên mất rằng khi ở cuối chữ, “y” tiếng Anh lại là nguyên âm: “wrongly”, “silly”, “fuzzy”, thậm chí trong “Y a-t-il” của tiếng Pháp chẳng hạn, “y” cũng là nguyên âm mang âm [i] rất cứng. Và trong từ “physics/physique” thì “y” của vần chính là bán nguyên âm chắc? Cần biết rằng bán nguyên âm “y” có cách phát âm [j] tương đương âm của chữ “d” của người Miền Nam. Lối phiên âm chữ “you” của Anh thành “iu” hoàn toàn là sản phẩm của những người sống sau bức màn sắt, chưa hề một lần được nghe tiếng nước ngoài. (Nếu dùng chữ Việt để phiên âm, nó phải bắt đầu bằng “d” chứ không phải bằng “i”. Nhưng khốn thay sau bức màn sắt “d”, “gi” và cả “r” lại được phát âm cùng một cách là [z]: Zời ôi, xong zồi, zễ zàng. Thế nên nếu phiên là “du” thì họ đọc thành “zu” là cái sở thú mất[5].)
Ngay trong tiếng Việt, chữ “yêu” phải đọc là “iêu”, phần đầu của tiếng có cách phát âm giống hệt “im” hay “ỉa” (xin lỗi không tìm được ví dụ khác), chứ không hề đọc là [jêu] (là âm của chữ  “dêu”) hay [jiêu] (là âm của “diêu”). Suy ra “y” = “i”. Trong chữ “tay” hay “tuy”, “y” vẫn có âm [i], nó là nguyên âm.
Vậy cái lý không được viết vần đơn “y” vì nó là bán nguyên âm đã rõ ràng là phi lý.
Và hình như trong khi tạo dựng bộ ký tự để phiên âm tiếng Việt, tiền nhân đã không hề sử dụng tới khái niệm bán nguyên âm. Thế nên tiếng Việt ngày nay có 12 chữ nguyên âm (trong đó có “y”, dĩ nhiên). Tiền nhân đã chỉ có một qui ước là bên cạnh thuộc tính âm của nó là [i], “y” còn làm nguyên âm phía trước ngắn lại: nguyên âm nào có “y” phía sau thì sẽ ngắn lại, hơi gắt một chút.
Ví dụ: Nếu bảo “ă” là “a ngắn” (hay như giáo sư Lê Ngọc Trụ gọi là “a gắt”), và bảo “w” là “u ngắn” (ngắn đến độ trở thành bán nguyên âm), ta có:
tay = tăi; loay hoay = loăi hoăi; quay = quăi
túy lúy = twí lwí
Trường hợp “ây”:
“â” chính là “ơ ngắn”. Lẽ ra phải viết “ơy” thì tiền nhân lại viết “ây”. Thành ra “cây” đúng ra phải viết là “cơy” hoặc “câi”
Cũng có thể giải thích việc “y” đi sau “â” nhưng không làm “â” ngắn lại là vì “â” vốn ngắn rồi, “y” không còn tác dụng nữa. Vậy “ây” = “âi”: “quấy” = “quấi” (mới nhìn thì thấy hơi chướng mắt), khác với “quới”.
Đến đây người viết chợt nhớ tới một ý kiến phản bác nhận định của học giả An Chi “ă” và “â” là “a ngắn” và “ơ ngắn”. Ý phản bác đó hỏi rằng nếu đã viết được là “tăi” thì tại sao lại còn đẻ ra “tay”... Mới đọc kẻ hèn này cũng hơi ngỡ ngàng, ừ nhỉ... Nhưng đây lại là một kiểu nghĩ “lấy thúng úp voi”, hệ thống kí hiệu trong lãnh vực nào cũng có trường hợp nhiều ký hiệu dùng để chỉ cùng một hiện tượng. Lấy ví dụ hệ thống ký âm âm nhạc, dấu sol thăng và dấu la giáng là hai dấu để chỉ cùng một cao độ trên cây đàn piano. Nếu không hiểu gì về nhạc pháp thì bảo những người tạo ra ký âm pháp là điên hay dốt gì đó. Có biết đâu người ta ghi lúc này lúc khác là để người đọc dễ nhận ra cung nhạc khi diễn tấu. Trong lãnh vực chính tả Việt Ngữ, có thể trước đây tiền nhân đã có ý đồ gì đó nhưng sau không khai triển nên bỏ qua,[6] chỉ dùng một kiểu phiên là đủ. Như chữ “quả” có thể viết là “cỏa”, chữ “cười” viết là “kười”, hoặc như “phương pháp” viết là “fương fáp” vẫn được nhưng nay chúng ta chỉ dùng có một kiểu đó thôi.
Trở lại với qui ước “y làm nguyên âm phía trước ngắn lại”: điều này dẫn tới hai hệ lụy:
(1) Chỉ viết “y” nếu muốn làm nguyên âm trước nó ngắn lại. Suy ra không dùng “y” khi không cần thiết. Và kết quả là: iêu nhau, iến tiệc, iểu điệu, chim iểng, iết hầu, iêng hùng, iếm thế, iểm trợ, Iên Thế (phải phiên như vậy vì chữ Quốc Ngữ có sau tên này), đê Iên Phụ, iên ngựa, i học, nước Í, í kiến, ỉ lại, Ỉ Thiên Kiếm, thế ỉ dốc, kí sự, li kì, quí vị (qu+í chứ không phải q+úi)...
(2) Muốn làm nguyên âm trước âm [i] ngắn lại thì viết âm [i] đó bằng “y”. Suy ra khi “y” đứng một mình thì nó không làm cái gì ngắn lại cả, và vẫn là âm [i]. Và kết quả là tùy hứng, như hiện nay.
Ngày nay có vẻ người ta thích khuynh hướng thứ hai hơn. Tại sao lại như vậy? Xin thưa, rõ ràng dùng “y” tự do thì họ có thể nói được nhiều điều qua qui ước chính tả riêng, rồi dần thành trường phái, rồi có thể trở thành qui ước chung, hợp với mong muốn của con người là mọi sự trở nên chính xác hơn, đẹp hơn và tiện lợi hơn. Viết “yêu” là vì đầu từ có một chữ dài thì trông vừa mắt hơn, viết “y phục” để bảo rằng đây là chữ Hán Việt, khác với “i hệt” là từ thuần Việt, “ỉ ôi” khác với “ỷ lại”, “một bút ký” khác với “một kí (lô) bút”, “tỷ lệ” khác “tỉ đồng”, “lý do” khác “lí ngựa ô” và “lí lắc”. Và họ viết “quý” vì “y” hợp qui tắc Hán Việt của họ hơn.
Nhưng họ vẫn viết “bỉ nhân”, “bỉ ổi” “nước  Bỉ” chứ không viết “bỷ”; viết “dĩ nhiên”, “Dĩ An”, chứ không viết “Dỹ”, tức là lại áp dụng luật thuần “i” sau các phụ âm “b”, “ch”, “d”, “đ”, “gh”, “kh”, “n”, “nh”, “ph”, “r”, “th”, “tr”, “x”.
Xét đến đây thì phải nói Vũ Xuân Lương dù gì cũng đã đúng trong qui tắc về “i” và “y” đơn âm, xin trích:
“Khi “I” đứng một mình làm thành một chữ (hoặc một âm tiết), thì: nếu là chữ Hán-Việt, nên viết “Y”, chắng hạn viết Y KHOA, Ỷ THẾ, Ý KIẾN... không viết I KHOA... Í KIẾN...; nếu là chữ thuần Việt, nên viết “I”, chẳng hạn viết Ỉ EO, Í ỚI... không viêt Ỷ EO, Ý ỚI...”
Thế nhưng khi cho viết “ý kiến”, “y khoa”, chắc chắn Vũ Xuân Lương không đặt vấn đề “bán nguyên âm” đối với “y”. Mà ở đây rõ ràng là để phân biệt một cái gì đó khác hơn là âm. Cũng trong cái ý muốn phân biệt này mà người ta viết “ngựa hí” và “hý lộng quỷ thần” vân vân. Chỉ tiếc là sao Vũ Xuân Lương lại không thấy cái khuynh hướng muốn phân biệt Hán Việt với Việt thuần khi người ta viết “kĩ” hay “kỹ”, “mĩ” hay “mỹ”... Đã mở lối được cho một chữ sao không mở luôn cho hai chữ để trả sự phong phú của tiếng Việt lại như cũ.
Người ta không viết “thy sỹ” hay “phy đạo” là vì từ xưa đến giờ tự điển viết khác, nên người ta không dám đó thôi. Những gì còn để ngỏ thì người ta tận dụng theo lí lẽ riêng của người ta.
Đó là các thói quen và qui tắc chính tả cũ mới.

Nhận xét về cách dùng “i” và “y” xưa nay vẫn gặp:

- Trường hợp không có phụ âm đầu: Đúng là “y” dùng cho chữ Hán Việt: ý kiến, ỷ lại, Ý Đại Lợi, Y Nhã... Còn “i” dùng cho chữ không phải Hán Việt: I-nha-xiô, I-nê, i hệt, sức ì, ì xèo, í ẹ, í ới, lợn ỉ, ỉ ôi, đi ị...
- Với những phụ âm đầu là “b, ch, d, đ, g, gh, kh, n, ngh, nh, p, ph, r, th, tr, x,” thì không thấy ai dùng “y” dù cho có là chữ Hán Việt hay không. Các chữ lấy làm ví dụ dưới đây chỉ là tiêu biểu cho mỗi loại nghĩa của chúng.
B:        hòn bi, bi ai, bi-da, bi ký, chì bì, phân bì, bì heo, li bì, bí mật, bí lối, quả bí, bỉ ổi, bỉ nhân, nước Bỉ, bĩ cực thái lai, cái bị, bị thương, quai bị, thủ bị, chuẩn bị.
Ch:        chi tiết, cái chi, chi tiêu, nhân chi sơ, địa chi, chì, chì (giỏi), chì bì, chí khí, con chí, chí tôn, sợi chỉ, đình chỉ, chỉ một, chỉ trỏ, chiếu chỉ, chăm chỉ, chị em.
D:        di chuyển, du di, sa-di, di chúc, dì cháu, dủ dỉ dù dì, dí dỏm, dú dí, dủ dỉ dù dì, dĩ lỡ, dĩ nhiên, dạn dĩ, Dĩ An, dị thường, giản dị.
Đ:        đi đứng, đì (đè), đù đì, đì đùng, đĩ thõa.
G:        chim gi đá, cái gì, gỉ (rỉ) sét.
Gh:        ghi chú, ghi-đông, Tân Ghi-nê, ghì chặt, ghị lại.
Kh:        khi dễ, khi nào, cười khì, không khí, vũ khí, khí tiết, con khỉ, Cửu trùng án kiếm khỉ đương tịch, dụ khị.
N:        cái ni, Ni-tơ, Ni-giê-ri-a, ni cô, ni tấc, mũ ni, nằn nì, nì (nè), nỉ, năn nỉ, nị, cà-ri-nị, tí nị.
Ngh:        nghi ngờ, dung nghi, uy nghi, đền nghì, nghỉ ngơi, nghỉ (hắn), nghĩ ngợi, nghị lực.
Nh:        nhi đồng, Ô Mã Nhi, kính nhi viễn chi, nhì, nhì nhằng, lí nhí, nhí nhảnh, ừ nhỉ, tâm nhĩ, nhị, Nhị Hà, đàn nhị, tế nhị, nước mắm nhĩ.
P:        số pi, Pi-ta-go, tả-pí-lù.
Ph:        phi lý, phi cơ, phương phi, hoàng phi, béo phì, phì phèo, Hoàng Su Phì, phí phạm, phí tổn, thổ phỉ, phỉ báng, phỉ phui, béo phị.
R:        như ri, gà ri, Rù Rì, rì rào, rì rầm, Phan Rí, rò rỉ, rỉ tai, hoen rỉ, rỉ rả, rầu rĩ, rầm rĩ, rị mọ, bí rị, rị (giữ = ghì).
Th:        thi ca, thi cử, thi hài, thi hành, thì, thì giờ, thì thầm, thì thọt, thì thào, bố thí, thí sinh, thí mạng, thủ thỉ, thỉ (mũi tên), thị lực, thị oai, thị vệ.
Tr:        tri thức, tri phủ, Na-tri, tu trì, trì kéo, trì trệ, (ao), trí thức, trí trá, bệnh trĩ, chim trĩ, trị, thịnh trị
X:        xi mạ, ba xi đế, Phan-xi-cô, công-xi heo, xi em bé, trét xi, xù xì, xì hơi, xầm xì, lì xì, xí được, ba xí ba tú, nhà xí, xí xọn, xấu xí, xí-mại, dương xỉ, xỉ (răng), xỉ quặng, xị rượu, xá-xị, bí xị, (nhưng ô-xy, nên sửa lại là ô-xi, hay giữ nguyên oxy)
Nhưng khi bắt đầu bằng “s, v, k, l, h, m, t, qu” thì những chữ Hán Việt thường được viết với “y” và vẫn có một số chữ lấn cấn:
S:        ca sỹ, sỹ diện, hạ sỹ, sỹ phu, Sỹ Nhiếp: cây si, si mê, đen sì, sỉ nhục, sĩ diện, ca sĩ, sĩ quan, sĩ phu, Sĩ Nhiếp.
V:        tường vy, vỹ nhân, vỹ tuyến, long vỹ; vi vu, ti-vi, vi cá, bởi vì, trị vì, làm vì, yêu vì, ví von, cái ví, cái vỉ, van vỉ, vĩ tuyến, vĩ nhân, vị tha, vị tất, vị giác, thiên vị, quý vị, vi lượng, hành vi, vô vi, tường vi, chu vi.
K:        phổ ky, cầm kỳ, quốc kỳ, ký danh, ký sinh, kỷ niệm, ích kỷ, kỷ hà, kỷ luật, thế kỷ, Kỷ Hiểu Lam, Đắc Kỷ, kỹ sư, kỹ nữ, kỵ mã, đố kỵ; Ki-tô, cái ki, ki bo, cu ki, tàu hũ ki, cầu Băng Ki, kì cục, kì ghét, cực kì, kì đà, kí lô, kí đầu, kí-ninh, kỉ trà, kĩ lưỡng, kị giỗ, kiêng kị.
L:        biệt ly, hải ly, Hồ Quý Ly, lý thuyết, hải lý, lý tưởng, huyện lỵ; thác Cam Li, I-ta-li, cái li, li tấc, lì lợm, lì xì, lí lẽ, lí lắc, lí con sáo, liên lỉ, kiết lị, xá lị.
H:        Hy Mã Lạp Sơn, hy vọng, hy hữu, hy tế, hý viện, hoan hỷ, Tự quân chi xuất hỹ Hi-ma-lay-a, hi-drô, hi hi, hì hì, ngựa hí, hỉ mũi, hỉ hả, hỉ (hả) hậu hĩ, xảo ngôn lệnh sắc thiển nhân.
M:        mỹ thuật, nga my, nga mi, mi (mày), mi mắt, mi (hôn), lễ mi-sa, mì sợi, bánh mì, khoai mì, nhu mì, mí mắt, bật mí, tỉ mỉ, củ mỉ cù mì, mĩ miều, mĩ mãn ủy mị, lừa mị.
T:        ty học chánh, rượu ty, ty thể, nhị tỳ, tỳ kheo, đạo tỳ, tỳ bà, tuổi Tý, tỷ lệ, tỷ tỷ, tỵ nạn, tuổi Tỵ, tỵ khổng (lỗ mũi); ti tiện, cái tu ti, liền tù tì, tì (đồng), tí tẹo, cái tí, tò te tú tí, giả tỉ, một tỉ, tỉ như, tĩ (đít), tắc tị.
Qu:        quy tụ, kim quy, quy tắc, hải quỳ, quỳ hoa bảo điển, quý nhân, quỷ thần, thủ quỹ, quỹ đạo, quỵ lụy; bích qui, ắc-qui, con sâu qui (họ cuốn chiếu), quì gối, quí báu, quí (ba tháng), quỉ thần, quĩ đen, ngã quị, quị lụy.


Khi Vũ Xuân Lương nói “nhất loạt viết HI, KI, LI, MI, TI...”, quả nhiên là vì năm phụ âm đầu này có vấn đề về “y” và “i”. Nhìn lại bảng tổng hợp trên, trường hợp “sỹ” và “vy”, “vỹ” có vẻ như không thống nhất dùng “y” hay “i” khi là Hán Việt. Có vẻ như các nhà in và nhà xuất bản ngày trước đã sắp chữ sai trong hai trường hợp này. Còn lại đúng năm trường hợp Vũ Xuân Lương yêu cầu viết “i” thay “y”. Thực ra là sáu, phải kể cả “qu” vào nữa: Đã có những phân biệt khá rõ ràng (mặc dù vẫn có vài từ dùng lẫn lộn) trong cách dùng “y” với 6 phụ âm đầu “K, L, H, M T và Qu”: Đó là dùng “y” khi viết chữ Hán Việt, dùng “i” cho các chữ không phải “Hán Việt”.
Kể từ ngày ra cuốn tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức rồi các hội nghị chính tả ở Miền Nam nêu qui ước thống nhất thành “i” đến nay vẫn tồn tại những chữ “y” trong trường hợp riêng khá nhất quán (Hán Việt) chứng tỏ những người làm văn hóa đã và đang ra sức làm giàu thêm cho chữ Việt và vẫn đi theo cái khuynh hướng ban đầu của tiền nhân khi họ tạo ra bộ chữ Việt, mà hồi đó là sự phân biệt giữa “quốc” cho từ gốc Hán (quốc gia, quốc thể, quốc tế, liên hiệp quốc...), với “cuốc” cho các từ mang nghĩa khác (cuốc đất, chim cuốc, cuốc bộ...) của tiền nhân.
Còn việc tránh dùng “y” khi mang dấu nặng vì dấu nặng này bị che khuất cũng là một lý do khiến người ta chọn “i”. Nhưng lập luận như thế sẽ khiến tất cả thành “i” hết. Vì không lẽ viết “huyện lị” mà lại viết “phi lý”, phải là “phi lí” mới nhất quán. Kết quả là không cần phân biệt “y” đơn Hán Việt nữa. Cứ viết “i phục”, “í kiến”... như trên đã thấy. Nếu muốn phân biệt Hán với Việt thì giữ “y” còn nếu không thì trả tất cả về “i”.
Trái lại, có ý kiến cho rằng phải viết tất cả các chữ đơn âm [i] bằng “y” vì như thế mới đẹp và rõ ràng; chữ “i” chỉ có một nét, lại nhỏ bé, dễ gây ngộ nhận với một ký hiệu gì đó khác. Và lúc này ta có: y học, ỷ lại, ý ẹ, đi ỵ, ỳ ra đấy... Điều này cũng đưa tới kết quả bỏ hẳn phân biệt Hán và Việt.
Bất kỳ ý nào trong hai ý trên và kể cả ý của Vũ Xuân Lương (trong đề nghị “i” đi với phụ âm) cũng đưa đến hệ quả là cái nguồn gốc Hán của tiếng Việt dần dần được xóa khỏi những sản phẩm văn hóa của người Việt. Điều này xấu hay tốt chưa rõ (có lẽ phải tham khảo ý kiến những người làm công tác bảo tồn bảo tàng văn hóa) nhưng rõ ràng là công khó của cả một tầng lớp sĩ phu (hay sỹ phu) trong cả thế kỷ bỗng chốc ra tro.
Các trường Việt Ngữ ở hải ngoại đã chọn con đường dễ đi cho trẻ con học tiếng Việt (và dễ dạy cho thầy cô của chúng vốn cũng yếu về chính tả và ngữ nghĩa), nhưng lại không tính chuyện đường dài. Sau này khi các em lớn lên và đọc thấy “lý tưởng”, “kỹ sư”, “mỹ thuật” trong các tác phẩm văn học thay vì “lí tưởng”, “kĩ sư”, “mĩ thuật” thì cái cảm giác bất ngờ nó cũng giống như cảm giác của kẻ hèn này sau năm 1975 gặp trường hợp ngược lại. Hỏi có hiểu không thì đương nhiên là hiểu chứ vì ai mà chả biết “i” và “y” cùng âm [i]. Nhưng mà rồi cũng sẽ giống như kẻ hèn này bây giờ, đến lúc đó các em sẽ không chấp nhận và bảo rằng viết “y” là sai. Các em sẽ bảo nó sai về mặt nào thì không rõ, nhưng các em sẽ tìm ra nhiều lý do để bảo rằng nó sai: thẩm mỹ, ngữ âm gì đó chẳng hạn, hay vì trong từ điển không có, vân vân... Mà các em sẽ không biết rằng những người dùng tiếng Việt làm tiếng Mẹ Đẻ có cách phát triển di sản của cha ông một cách rất sáng tạo và tài tình. Đến khi biết ra thì các em sẽ mang nặng mặc cảm tự ti là mình đã đứng ra khỏi dòng văn hóa Việt, và mặc lấy cái cảm giác rằng mình đã trở thành một đứa con ghẻ của Mẹ Việt Nam. Hãy nghĩ lại và làm lại vì chúng ta là người đi trước, và vẫn còn kịp để mà sửa. Mà sửa cũng dễ: chép lại đoạn trích sách “Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên trên đây, còn các thầy cô giáo thì nên trau giồi thêm vốn Hán Việt của mình.
Việc sửa cho tất cả âm [i] phải được viết bằng “i” nếu được áp dụng sẽ trở nên một tiền lệ tạo thói quen sửa chữ lại cho đúng âm, mặc kệ giá trị văn hóa hay lịch sử của chữ, tiền lệ này sẽ kéo theo việc phải viết tất cả “gi” thành “d” vì hai âm này có cùng cách phát âm (là [z] ở miền Bắc và [j] ở miền Nam). Rồi tương lai các chữ “r” cũng sẽ sửa thành “d” ở miền Bắc và thành “g” ở miền Nam...; Rồi nguyên âm kép “ay” sẽ biến thành “ây” hết... nhiều lắm lắm!
Lại nữa nếu cứ nhất định phải sửa quy tắc chính tả thì hãy bảo người Anh sửa chữ “receive” hay “believe” lại thành “receeve” và “beleeve” trước đã. Hay bảo họ bỏ chữ “p” trong “empty” đi vì nó đâu có mang âm gì. Còn nếu muốn giản tiện cho chữ Việt thì trước tiên cũng hãy bảo người Anh bỏ bớt chữ “masculine” đi, cứ thay bằng chữ “male” chứ để làm gì hai chữ khác nhau mang cùng nghĩa như vậy. Rõ ràng kiểu cải cách đang bàn chỉ là kiểu “phú quý thụt lùi”.
Nói đi thì phải nói lại: thực ra ở Mỹ, “colour, labour...” đã bị sửa thành “color, labor” và “centre, litre” thành “center, liter” làm cho chữ Anh và chữ Mỹ đã khác nhau chút đỉnh. Nhưng nếu muốn bắt chước Mỹ thì hãy xem kỹ lại hoàn cảnh và quá trình cải cách của Noah Webster hồi đầu thế kỷ XIX trước đã.
Để kết thúc những lan man về chuyện i ngắn i dài này, nhân sau khi xem qua trang diễn đàn của các em học sinh chuyên Vật Lý Việt Nam[7] bàn chuyện “vật lý” và “vật lí”, kẻ hèn này xin được nhắc lại là chính tả là quy ước xã hội, nó là một yếu tố đóng góp vào những đặc điểm văn hóa của dân tộc, và nó thuộc về bộ môn xã hội chứ không thuộc về khoa học như bộ môn ngữ âm hay âm vị học. Các quy ước chính tả chỉ được hình thành bởi người sử dụng chữ viết xuyên suốt theo bề dầy lịch sử của một dân tộc. Việc võ đoán áp đặt chính tả chỉ nói lên ý muốn “mặc đồng phục” cho mọi thứ của những người duy ý chí tôn thờ chủ nghĩa giáo điều, mà lịch sử đã chứng tỏ họ luôn làm sụp đổ các nền văn minh của nhân loại.


Hồng Đức[8]
Tái bút:
Theo đuôi các ý tưởng viết lại chữ Việt xuất hiện rầm rộ gần đây (chữ Việt đa âm tiết, chữ Việt không dấu thanh... và kể cả cái ý tưởng viết “ph” thành “f”, “c” thành “k” và “d” thành “z” đã có từ những năm 1920), kẻ hèn này cũng mày mò sáng chế và khẳng định rằng có thể bỏ hẳn “q”thay hẳn “y” bằng “i” trong mọi trường hợp mà không thêm gì vào hệ thống chữ Việt.
Như đã biết (xem các ký hiệu phiên âm quốc tế), thêm dấu trăng vào đầu chữ “a” sẽ làm âm [a] của nó ngắn lại. Nay khi cần làm nguyên âm nào ngắn lại ta cứ việc thêm dấu trăng lên đầu nó.
Trong tiếng Việt, trừ “y” đơn ra thì chỉ có 10 vần có “y”, xin được cải cách như sau:
cũ        mới     thí dụ:
ay        ăi        mắi băi (máy bay)
ây        âi        lẩi bẩi (lẩy bẩy)
uy        ŭi        cŭị lŭị, cŭính cŭít (quỵ lụy,                       quýnh quýt)
              iên ổn (yên ổn)
oay       oăi       loăi hoăi (loay hoay)
uây       uâi       tầi huầi (tầy huầy)
uyu       ŭiu       khúc khŭỉu (khúc khuỷu)
uya       ŭia       đêm khŭia (đêm khuya)
uyê       ŭiê       hŭiên thŭiên (huyên thuyên)
yêu       iêu       iểu điệu (yểu điệu)
Và tất cả “q” sẽ được viết là “c”, như: cuốc gia, cŭiên góp, cŭên sót, cóa đáng, vun cuén, cỏa cŭiết, cŭỉ cŭiệt, cuen thuộc...
Còn nếu ai không thích chữ “ŭ” thì có thể thay nó bằng chữ “w” cũng là một con chữ hiện đại đấy. Và sẽ có: kwả kwiết, kwái, kwanh kwẩn, kwá kwắt, twiệt diệu, hwiền bí, wi kwiền, Bà Kwẹo...
Ôi! Cuốc gia tŭiệt vời, cuê hương iêu dấu, sau những chặng đường khúc khŭỉu của lịch sử, sau những loăi hoăi trong đêm hôm khŭia khoắt tưởng chừng tŭiệt vọng, ngằi năi dân ta đã có được một thứ chữ ŭiên bác, không tầi huầi cuê mùa như trước.
Dec 01 2007


[2] Xin đọc bài “Suy nghĩ về chính tả, đọc “Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng Việt” của Vũ Xuân Lương” của Hồng Đức
[3] Thế Uyên tên thật là Nguyễn Kim Dũng (sinh năm 1937), giáo sư, nhà văn, dịch giả, chủ trương Nhà Xuất Bản Thái Độ, Saigon. Sau 1975 đi tù cải tạo, hiện sống tại Seattle, Hoa Kỳ.
[4] Trích “Quốc Văn Lớp 6” của Thế Uyên do Thái Độ xuất bản tại Sài Gòn năm 1972, trang 18.
[5] Về cái tật này, có một câu nhại giọng khá nổi tiếng: “Hao a zờ zú”!
[6] Có thể cái ý đồ đó chỉ đơn giản là muốn giảm bớt dấu trên đầu chữ cho nó sáng sủa: “mắi” nhiều dấu hơn “máy”. Nhưng “ớy” và “ấy” thì cũng nhiều dấu như nhau, sao lại chọn “ấy” mà không là “ớy”? Câu hỏi này còn bỏ ngỏ.
[8] Revised Nov 30 ’07.
HỒNG ĐỨC




LUẬT CHÍNH TẢ VIẾT “Y” VÀ “I”

1) Viết “i” cho tất cả những phụ âm sau đây, bất kể chữ Hán-Việt hay thuần Việt:

B, CH, D, Đ, GH, KH, N, NGH, NH, P, PH, R, S, TH, X, và V, ngoại trừ một số tên riêng chọn dùng, như Sỹ, Vy, Thy….

2) Viết “i” cho chữ thuần Việt và “y” cho chữ Hán-Việt sau các phụ âm sau đây:

K, L, H, M, T và QU.

Chữ “y” luôn được dùng khi đi đôi với phụ âm “qu”.

Chữ “i” chỉ sử dụng với phụ âm "qu" khi từ đó có nguồn gốc từ tiếng ngoại quốc hay phiên âm từ tiếng nước ngoài.


 

- Chữ Y đứng một mình sau S lẽ ra đều phải là I (ngắn).

Thí dụ:

- bác sĩ, ca sĩ, sĩ diện, binh sĩ, sĩ khí.

- vô sỉ, sỉ nhục,

Quốc Sỉ (dấu hỏi, = nỗi nhục của tổ quốc)

Quốc Sĩ (dấu ngã, = nhân sĩ của quốc gia)

Doãn là đám mây = Doãn
Sĩ là kẻ sĩ

Doãn Quốc Sĩ = kẻ sĩ của quốc gia.

 



Hình: Bên trái là sách giáo khoa của VNCH viết chữ "vật lý", bên phải là sách giáo khoa của Việt cộng sau 1975 lại viết là "vật lí".

 

Sau 1975, những chữ i ngắn bị đổi thành chữ y dài (y dài đọc là 'y cà rết') và ngược lại, những chữ y dài (y cà rết) bị đổi là là i ngắn. Lối chơi ngông "cải cách" của Việt cộng như cao ngạo, như thách thức giới chức trí thức và giới khoa bảng Việt Nam cũ.

A K cây súng kè kè,
(Việt cộng) Nói sai, nói bậy (thế mà) người ta nghe hà rầm.



A K cây súng kè kè,
Nói sai, nói bậy người nghe hà rầm.


Chẳng hạn như các chữ:
► "bác sĩ" bị Việt cộng đổi thành "bác sỹ"

► "ca sĩ" bị Việt cộng đổi thành "ca sỹ"

► Chữ "hy vọng" bị Việt cộng đổi thành "hi vọng"

► Chữ "lý tưởng" bị Việt cộng đổi thành "lí tưởng"

► "vật lý" bị Việt cộng đổi thành "vật lí"

► Chữ "xử lý" bị Việt cộng đổi thành "xử lí"

► "lý hóa" bị Việt cộng đổi thành "lí hoá" (chú ý: cách đánh dấu cũng bị chúng đổi qua âm cuối)

► "cách ly, ly tán, lâm ly bi đát", bị bị Việt cộng đổi thành "cách li, li tán, lâm li bi đát".

► May thay! Các chữ như: "bắn bi, bi đát, bắt bí, bí thư, từ bi và bí bo... không bị Việt cộng chúng đổi thành: bắn by, by đát, bắt bý, từ by, bý bo, và bý thư... Nhưng Việt cộng chuyện gì chúng cũng làm, chúng chưa làm đấy thôi.
Và còn nhiều lối "cải cách" dị hợm sau 1975 nữa....


Chúng tôi xin ghi lại những chữ i ngắn và y dài (y cà rết) thời trước 1975 Việt Nam vẫn dùng, để thế hệ sau ghi nhớ.

Chữ "Sĩ" của trước 1975




 

Chữ "Sĩ" của trước 1975 SĨ và SỸ

Nếu theo con đường học hành, chữ đầu tiên thường gặp là sĩ số trên bảng đen để điểm danh.

Bước vào cửa ải đầu tiên gọi là  sĩ tử, chịu khó phấn đấu sẽ thành thạc sĩ rồi lên tiến sĩ và tột đỉnh trong lãnh vực nghiên cứu là tiến sĩ khoa học.

Học thành tài mà đóng góp với đời bằng kiến thức thì xưa là  sĩ phu, còn nay là  nhân sĩ

Người có học thường được gọi là  kẻ sĩ. Được thế giới công nhận thì thành  viện sĩ.

Nếu theo đường binh nghiệp bước đầu là  chiến sĩ hay  binh sĩ.

Tiếp tục phấn đấu sẽ thành hạ sĩ quan từ hạ sĩ lên trung sĩ rồi thượng sĩ. Chịu khó phấn đấu tiếp sẽ thành sĩ quan.

Đánh giặc dũng cảm thì được gọi là dũng sĩ. Chẳng may chết trận sẽ nằm trong số tử sĩ. Nếu hy sinh một cách vinh quang sẽ được phong là liệt sĩ.

Đi theo con đường chính trị thì bước đầu chỉ là tay chân trên bàn cờ thế sự gọi là sĩ tốt.

Tiếp theo thành kẻ nấp sau lưng bầy mưu tính kế gọi là  mưu sĩ. Lên đến đỉnh trở thành nghị sĩ, cụ thể hơn là hạ nghị sĩ hoặc thượng nghị sĩ.

Còn theo ngành nghệ thuật thì người làm thơ gọi là thi sĩ, viết văn sẽ là văn sĩ (ưu ái phụ nữ nên có chữ nữ sĩ mà không có nam sĩ), người sáng tác nhạc gọi là nhạc sĩ còn hát (nhạc) thì được gọi là ca sĩ.

Chán đời xuất thế sẽ là ẩn sĩ, đi tu thì thành tu sĩ. Theo đạo của Lão tử sẽ là đạo sĩ  còn theo các đạo khác sẽ thành giáo sĩ.

Khi sức khỏe hơn người gọi là lực sĩ, ra ta cứu giúp người bị nạn hiếp đáp thì gọi là hiệp sĩ,còn chẳng may vào bệnh viện sẽ có các bác sĩ và y sĩ  “phục vụ”.

Ta được các nha sĩ chăm sóc nhiều hơn, vì các bộ phận trên thân thể người ta chỉ có từ một đến hai cái và hoạt động rất bền, ngoại trừ răng có tới 32 cái x 2; do đó, phải thay hết một lượt răng sữa nên răng phải được chăm sóc luôn.

Người ta nên có sĩ diện, nhưng không lo học và làm mà chỉ nghĩ mình hay sẽ là “đại sĩ”.




Chúng ta chê Việt cộng ngu {*}, tại sao chúng ta phải theo cách của chúng để 'cải cách tiếng Việt' từ tiếng Việt trong sáng'' đến 'tiếng Việt u minh' của chúng?
{*} Ngu trong cách xây dựng, nhưng 'thiên tài' trong cách phá hoại và giết chóc (việt cộng).

 


 

Đọc thêm

►► Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/04/cach-bo-dau-tieng-viet-tren-trang-web.html


►► Âm và Chữ --- Trong Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/am-va-chu-trong-tieng-viet-truoc-va-sau.html




►► Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/04/tieng-viet-ten-mau-tu-xin-ke-hau-qui-vi.html




►► Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/anh-van-tieng-viet-truoc-va-sau-1975.html




►► I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/tieng-viet-i-va-y-hong-uc-ngay-sau-ngay.html




►► I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975

Nguyên Tắc Đánh Dấu Chữ "I" và "Y"

 

◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙

 

Đọc thêm những cách "cải cách ngôn ngữ trong tiếng Việt" của Việt cộng để hiểu tại sao người ta ta thán như bọng về nỗi buồn tiếng Việt, và sau đó sau 45 năm, người ta bắt đầu lo lắng cho tương lai thê hệ sau, tiếng Việt đã dần trở thành Tàu lai hay tào lao.



Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975-viec-sua.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet.html

 

 

No comments:

Post a Comment

"Saigonaises" Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn

Du khách ngoại quốc và dân "Saigonaises" còn gọi là Sài Gòn thay vì thành phố Hồ chí Minh. 1 Vì sao? Tro...